

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở làng Nghi Tàm. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà bà có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện nay bà còn để lại 6 bài thơ Đướng luật. Và bài thơ "Qua Đèo Ngang" là một trong số những bài thơ bà để lại. Bà đã viết bài thơ này khi đang trên đường đến huyện Phú Xuân, đi qua Đèo Ngang - đây là một địa danh phong cảnh hữu tình. Bài thơ là một bức tranh ngụ tình sâu sắc của nhà thơ, qua đó hé lộ cho chúng ta thấy được nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả được hiện lên rõ nét.
Khi mới vào bài thơ thì bà Huyện Thanh Quan đã nói rõ được nơi mà bà tới :
"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa"
Hai câu thơ trên đã gợi lên thời điểm mà tác giả tới Đèo Ngang, khi đó thời gian đã vào lúc xế tà tức là đã quá trưa, trời đang chuyển sang buổi chiều và sắp tối. Đối với một vùng hoang sơ, hẻo lánh thì thời điểm chiều tà cũng là thời điểm mọi người đã quay trở về nhà. Tác giả đã chọn thời điểm này để nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác, vắng vẻ của nơi đây. Và từ đây, tâm trạng tác giả đã bộc lộ ra - một tâm trạng hỗn loạn khi chứng kiến cảnh vật từ trên cao xuống :
" Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà"
Ở đây, một tâm trạng cô đơn, hiu quạnh của tác giả đã nhuốm màu sang cho cảnh vật khiến cho cảnh vật giờ đây dường như trở nên tan thương hơn bao giờ hết. Cảnh vật ấy hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Đó là một hình ảnh bình thường thế nhưng chữ "lom khom", "lác đác" đã khiến cho hình ảnh thơ thêm phần nào đó vắng vẻ, buồn tẻ và thê lương. Tác giả còn sử dụng lượng từ "mấy", "vài" để gợi lên sự thưa thớt nơi đây. Đặc biệt với sự kết hợp của đảo ngữ, phép đối thì đã gợi tả được sự vất vả của những tiều phu và tôn thêm vẻ đẹp heo hút, thưa thớt của Đèo Ngang. Tác giả rung động không chỉ bởi vẻ đẹp của cảnh vật mà còn là âm thanh của các loài chim :
"Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia"
Bà Huyện Thanh Quan đã lấy cái động tả cái tĩnh, lấy âm của con chim đỗ quyên, chim đa đa để gợi lên sự tĩnh lặng của Đèo Ngang lúc chiều tà. Đệp âm "con quốc quốc","cái gia gia" đã tạo nên một âm hưởng của tiếng nhạc rừng, tiếng nhạc của người lữ khách. Với việc sử dụng phép đối, đảo ngữ, chơi chữ để nói lên nỗi nhớ nước, thương nhà của người nữ sĩ. Một tâm trạng cô đơn, buồn bã của tác giả được thể hiện rõ nhất ở hai câu thơ cuối :
"Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta"
Câu thơ thứ sáu đã thể hiện sự bao la của vũ trụ qua ba từ "trời", non, nước" làm con người cảm thấy sự cô đơn một mình, lẻ loi. Nghệ thuật đối lập đã nhấn mạnh sự cô đươn của con người nơi Đèo Ngang hoang vắng. Câu thơ cuối đã diễn tả sắc nét nỗi buồn không biết chia sẻ với ai của bà Huyện Thanh Quang. Một sự cô đơn, buồn bã, không biết chia sẻ với ai được thể hiện rõ nhất ở cụm từ "ta với ta", chỉ mình ta biết nỗi buồn, nỗi nhớ quê nhà của bà Huyện Thanh Quan.
Dưới ngòi bút viết của bà Huyện Thanh Quan thì đã tạo ra một bức tranh Đèo Ngang hùng vĩ nhưng lại hoang vu, hiu quạnh, u buồn. Tác giả cảm thấy mình rất nhỏ bé trong thế giới thiên nhiên rộng lớn. Ẩn trong cảnh đẹp bao la là nỗi buồn man mác, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả.
`#Tâm`
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan là một trong những gương mặt tiêu biểu, đặc biệt bởi bà là nữ thi sĩ hiếm hoi nhưng lại có phong cách thơ rất riêng: trang nhã, cổ kính, hàm súc và thấm đẫm nỗi buồn hoài cổ. Thơ của bà không hướng tới những xúc cảm mãnh liệt mà thường là những rung động tinh tế, kín đáo, ẩn sâu trong từng câu chữ. Chính vì vậy, mỗi bài thơ của bà đều giống như một bức tranh tĩnh lặng nhưng lại chứa đựng những lớp cảm xúc sâu xa. Trong số các tác phẩm còn lại, “Qua Đèo Ngang” được xem là thi phẩm tiêu biểu nhất, thể hiện trọn vẹn tài năng và phong cách nghệ thuật của tác giả. Bài thơ không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên nơi Đèo Ngang lúc chiều tà mà còn là tiếng lòng cô đơn, nỗi nhớ nước thương nhà và tâm sự hoài cổ của một trí thức trong xã hội phong kiến nhiều biến động.
Mở đầu bài thơ là hai câu đề, vừa giới thiệu không gian, vừa gợi ra thời gian đầy ám ảnh:
“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Câu thơ đầu tiên mang tính tự sự nhẹ nhàng nhưng lại mở ra một hoàn cảnh giàu ý nghĩa. Hành động “bước tới” cho thấy nhân vật trữ tình đang trong một hành trình, một cuộc di chuyển có thể mang tính cá nhân nhưng lại chứa đựng nhiều suy tư. Đèo Ngang vốn là một địa danh nổi tiếng, nằm ở ranh giới giữa hai vùng đất, từ lâu đã trở thành biểu tượng cho sự chia cắt, xa cách. Vì vậy, ngay từ khi đặt chân đến đây, nhân vật trữ tình đã mang trong mình một tâm trạng không bình thường. Thời gian “bóng xế tà” là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Trong văn học cổ, buổi chiều thường gắn liền với nỗi buồn, sự chia ly và cảm giác cô đơn. Ánh nắng tàn không chỉ làm cho cảnh vật trở nên trầm lắng mà còn tác động trực tiếp đến tâm trạng con người, khiến lòng người dễ trĩu nặng những nỗi niềm.
Sang câu thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên hiện lên với những nét vẽ đầy sức gợi: “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Điệp từ “chen” được lặp lại hai lần tạo nên nhịp điệu dồn dập, gợi cảm giác thiên nhiên đang đan xen, chồng lấn lên nhau. Điều này vừa thể hiện sự sống mãnh liệt của cỏ cây hoa lá, vừa gợi lên sự hoang sơ, rậm rạp của núi rừng. Tuy nhiên, đằng sau vẻ sinh động ấy lại là một cảm giác chật chội, bí bách, như thể thiên nhiên đang “chen chúc” trong một không gian thiếu vắng sự hiện diện của con người. Chính sự đối lập giữa sức sống của thiên nhiên và sự vắng bóng của con người đã tạo nên một nỗi buồn man mác, thấm vào từng câu chữ. Ở đây, cảnh vật không còn đơn thuần là đối tượng miêu tả mà đã trở thành phương tiện để nhà thơ gửi gắm tâm trạng.
Hai câu thực tiếp theo đưa con người vào trong bức tranh:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
Nếu ở hai câu đề, thiên nhiên chiếm vị trí chủ đạo thì ở đây, con người đã xuất hiện nhưng lại vô cùng nhỏ bé và thưa thớt. Hình ảnh “tiều vài chú” với dáng “lom khom” gợi lên sự vất vả, lam lũ của những người lao động nơi núi rừng. Từ láy “lom khom” không chỉ mang giá trị tạo hình mà còn thể hiện sự cúi xuống, như bị đè nặng bởi cuộc sống mưu sinh. Bên cạnh đó, “chợ mấy nhà” lại hiện lên với trạng thái “lác đác”, không có sự đông vui, nhộn nhịp thường thấy. Từ láy “lác đác” nhấn mạnh sự ít ỏi, rời rạc, khiến cho không gian càng thêm hiu quạnh. Con người xuất hiện nhưng không làm cho cảnh vật trở nên ấm áp hơn, trái lại còn làm nổi bật sự cô đơn, vắng lặng của không gian. Điều này cho thấy một nghịch lý: càng có dấu hiệu của sự sống, nỗi cô đơn lại càng trở nên rõ rệt hơn. Qua đó, ta có thể cảm nhận được tâm trạng của nhân vật trữ tình – một con người đang lạc lõng giữa thiên nhiên rộng lớn và xa lạ.
Đến hai câu luận, cảm xúc của bài thơ được đẩy lên cao trào:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Đây là hai câu thơ đặc sắc nhất của bài, thể hiện rõ tài năng nghệ thuật cũng như chiều sâu cảm xúc của tác giả. Trước hết, về mặt nghệ thuật, nhà thơ đã sử dụng biện pháp chơi chữ rất tinh tế. Tiếng chim “quốc quốc”, “gia gia” vừa là âm thanh thực của thiên nhiên, vừa gợi liên tưởng đến hai từ “quốc” (đất nước) và “gia” (gia đình). Âm thanh ấy vang lên trong không gian vắng lặng của buổi chiều càng trở nên ám ảnh, như xoáy sâu vào tâm hồn người lữ khách. Từ đó, nỗi “nhớ nước” và “thương nhà” được khơi dậy một cách tự nhiên mà sâu sắc.
Không chỉ dừng lại ở nghệ thuật, hai câu thơ còn có giá trị nội dung lớn. “Nhớ nước” và “thương nhà” là hai tình cảm lớn của con người, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội phong kiến với nhiều biến động. Nỗi nhớ ấy không phải là cảm xúc thoáng qua mà được thể hiện bằng những từ ngữ mạnh mẽ: “đau lòng”, “mỏi miệng”. “Đau lòng” gợi cảm giác xót xa, day dứt; “mỏi miệng” gợi sự lặp đi lặp lại của nỗi nhớ, như thể người nói đã gọi mãi, nhớ mãi mà không nguôi. Qua đó, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm, giàu tình cảm của tác giả. Đồng thời, nỗi nhớ ấy còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, đó là nỗi niềm hoài cổ, tiếc nuối quá khứ, phản ánh tâm trạng chung của tầng lớp trí thức trong xã hội bấy giờ.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một nỗi cô đơn sâu lắng:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta”
Sau hành trình “bước tới”, nhân vật trữ tình dừng lại, như để chiêm nghiệm và đối diện với chính mình. Không gian được mở rộng ra với “trời, non, nước” – ba yếu tố tạo nên một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ. Tuy nhiên, chính sự rộng lớn ấy lại làm nổi bật sự nhỏ bé của con người. Giữa không gian bao la, nhân vật trữ tình chỉ còn lại một mình với “mảnh tình riêng”. Cụm từ “ta với ta” là điểm nhấn đặc sắc của câu thơ. Nếu trong một số tác phẩm khác, “ta với ta” có thể biểu hiện sự đồng điệu giữa hai con người, thì ở đây, nó lại thể hiện sự cô đơn tuyệt đối: một cái “ta” đối diện với chính mình, không có ai để sẻ chia. Đây là trạng thái cô đơn cao nhất, khi con người không chỉ xa cách với thế giới bên ngoài mà còn bị cô lập trong chính nội tâm của mình.
Về phương diện nghệ thuật, “Qua Đèo Ngang” là một mẫu mực của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ tuân thủ chặt chẽ niêm, luật, vần, đối nhưng không hề gò bó mà vẫn rất tự nhiên, giàu cảm xúc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng một cách điêu luyện: cảnh và tình hòa quyện vào nhau, cảnh vật trở thành phương tiện biểu đạt tâm trạng. Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, mỗi từ đều được chọn lọc kỹ lưỡng, mang nhiều tầng ý nghĩa. Các biện pháp tu từ như điệp từ, từ láy, chơi chữ được sử dụng linh hoạt, góp phần làm nổi bật nội dung và cảm xúc của bài thơ.
Xét về nội dung, bài thơ không chỉ phản ánh nỗi cô đơn của một người lữ khách nơi đất lạ mà còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc. Nỗi buồn trong bài thơ không phải là sự bi lụy mà mang vẻ đẹp trang nhã, kín đáo, đúng với phong cách của tác giả. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của một nữ thi sĩ tài hoa, sống trong xã hội phong kiến nhưng vẫn giữ được những rung động tinh tế và tình cảm chân thành.
Từ góc nhìn rộng hơn, “Qua Đèo Ngang” còn có thể được xem là tiếng nói chung của nhiều trí thức trong xã hội phong kiến Việt Nam. Đó là nỗi buồn trước sự thay đổi của thời cuộc, là tâm trạng hoài cổ, tiếc nuối quá khứ và khát khao tìm lại những giá trị đã mất. Chính vì vậy, bài thơ không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, chạm đến những cảm xúc phổ quát của con người ở mọi thời đại.
Tóm lại, “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, Bà Huyện Thanh Quan đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên giàu sức gợi, đồng thời gửi gắm vào đó nỗi cô đơn, nỗi nhớ nước thương nhà và những tâm sự sâu kín của mình. Bài thơ không chỉ là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam mà còn là tiếng lòng vượt thời gian, để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc hôm nay.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin
9156
186025
9505
Bài chưa phân tích được tầng nghĩa thứ hai! Bạn sửa lại nhé!
639
2153
781
nếu như nhớ không nhầm thì một là nói về thiên nhiên của cảnh Đèo Ngang và hai là tâm trạng của bà Huyện Thanh Quang thôi ạ
9156
186025
9505
không ạ, không chỉ nói về tâm trạng của bà huyện thanh quan về nỗi nhớ quê hương mà còn nhắc đến 1 thời triều đại vàng son đã qua nữa
639
2153
781
hừm, triều đại nào ạ? tại lúc mình học cô mình không có giải thích còn có triều đại vàng son nào đã qua trong bài này;-;;; nói để mình bổ sung thêm
1151
689
1255
hừm, triều đại nào ạ? tại lúc mình học cô mình không có giải thích còn có triều đại vàng son nào đã qua trong bài này;-;;; nói để mình bổ sung thêm -> nói về thời vàng son của triều đại của thời nhà Lê hoặc triều đại Tây Sơn ạ, vì lúc đó bà huyện Thanh Quan vào trong Phú Xuân nhận chức do vua Nguyễn phong, vì vậy bà nuối tiếc một thời đại hùng mạnh và phát triển của dân tộc. Rút gọnhừm, triều đại nào ạ? tại lúc mình học cô mình không có giải thích còn có triều đại vàng son nào đã qua trong bài này;-;;; nói để mình bổ sung thêm -> nói về thời vàng son của triều đại của thời nhà Lê hoặc triều đại Tây Sơn ạ, vì lúc đó bà huyện Thanh... xem thêm
1151
689
1255
Lúc mình học thì cô có giảng về sự hoài niệm này ạ.