

Phân tích bài thơ dại khôn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm :
Làm người có dại mới nên khôn,
Chớ dại ngây chi, chớ quá khôn
Khôn được ích mình đừng để dại
Dại thì giữ phân, chớ tranh khôn
Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại
Gặp thời, dại cũng hóa nên khôn
SOS!!!!!!
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông thường mang tính triết lí sâu sắc, thể hiện quan niệm sống thanh cao, tỉnh táo trước danh lợi và thời cuộc. Bài thơ “Dại khôn” là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó tác giả bàn luận về lẽ sống của con người trong xã hội.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên quan niệm đối lập giữa “dại” và “khôn”:
“Làm người có dại mới nên khôn,
Chớ dại ngày chi, chớ quá khôn”
Theo tác giả, “dại” và “khôn” không hoàn toàn tách biệt. Có khi phải chấp nhận cái “dại” trước mắt mới đạt được cái “khôn” lâu dài. Con người không nên quá khôn ngoan, mưu mẹo vì dễ rơi vào tính toán thiệt hơn, đánh mất nhân cách.
Tiếp đó, tác giả khuyên con người sống vì đạo lí, không nên chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân:
“Khôn được ích mình đừng để dại,
Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn”
“Giữ phận” ở đây thể hiện lối sống biết đủ, biết dừng, không tranh giành danh lợi với đời. Cái “dại” mà tác giả nói đến thực chất là sự khiêm nhường, lương thiện, tránh xa bon chen.
Hai câu tiếp theo tiếp tục khẳng định quan niệm sống ấy:
“Khôn mà hiểm độc là khôn dại,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”
Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán kiểu khôn ngoan hiểm độc, gian trá – đó thực chất là cái khôn giả tạo, cuối cùng sẽ mang lại tai họa. Ngược lại, cái “dại” hiền lành, chân thật lại là cái khôn bền vững, giúp con người sống thanh thản.
Kết thúc bài thơ, tác giả đưa ra lời nhắn nhủ sâu sắc:
“Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại,
Gặp thời, dại cũng hóa nên khôn”
Tác giả nhấn mạnh rằng không nên coi thường người khác, bởi trong hoàn cảnh và thời thế khác nhau, cái “dại” hôm nay có thể trở thành “khôn” ngày mai. Điều đó thể hiện cái nhìn nhân văn và từng trải của một bậc hiền triết.
Kết luận, bài thơ “Dại khôn” thể hiện triết lí sống sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm: sống khiêm nhường, hiền lành, không bon chen danh lợi, lấy đạo đức làm gốc. Qua đó, bài thơ để lại bài học quý giá cho con người trong mọi thời đại.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
Đáp án:Trần Tế Xương, hay còn được biết đến với bút danh Tú Xương, là một trong những nhà thơ trào phúng nổi tiếng nhất của Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với những vần thơ sắc sảo, hài hước nhưng cũng đầy triết lý sâu sắc về cuộc sống và xã hội đương thời. Bài thơ “Khôn Dại” là một ví dụ tiêu biểu cho tài năng và phong cách độc đáo của ông.
Bài thơ Khôn dại được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ truyền thống đòi hỏi sự cân đối và hài hoà trong cấu trúc. Tám câu thơ được chia thành bốn cặp, mỗi cặp đều mang một ý nghĩa riêng nhưng lại liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nên một tổng thể thống nhất. Vần ‘ôn’ được sử dụng xuyên suốt bài thơ, tạo nên âm hưởng êm ái, dễ nhớ.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã khéo léo đặt ra vấn đề:
Thế sự đua nhau nói dại khôn,
Biết ai là dại, biết ai khôn.Hai câu thơ này phản ánh một thực trạng xã hội: mọi người đều bàn tán, đánh giá về sự khôn dại của nhau. Tuy nhiên, câu hỏi tu từ ở câu thứ hai đã đặt ra một vấn đề mang tính triết lý sâu sắc: làm sao để phân biệt được ai thật sự khôn, ai thật sự dại? Qua đó, tác giả gợi mở cho người đọc suy ngẫm về bản chất phức tạp của con người và xã hội.
Tiếp theo, Tú Xương đưa ra những nghịch lý thú vị:
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,
Dại chốn văn chương, ấy dại khôn.Ở đây, tác giả sử dụng phép đối lập một cách tài tình. “Khôn nghề cờ bạc” được coi là “khôn dại”, trong khi “dại chốn văn chương” lại được xem là “dại khôn”. Qua đó, Tú Xương đã phê phán những giá trị bị đảo lộn trong xã hội, nơi mà sự khôn ngoan trong những việc vô bổ như cờ bạc lại được coi trọng, trong khi sự ngây thơ, chất phác trong học vấn, văn chương lại bị xem thường.
Hai câu tiếp theo đào sâu hơn vào bản chất của sự khôn dại:
Này kẻ nên khôn đều có dại,
Làm người có dại mới nên khôn.Tú Xương khẳng định rằng trong mỗi con người đều tồn tại cả sự khôn ngoan lẫn sự dại dột. Hơn thế nữa, ông còn nhấn mạnh rằng chính những lúc “dại dột” mới giúp con người trưởng thành và trở nên khôn ngoan hơn. Đây là một quan điểm sâu sắc về quá trình học hỏi và phát triển của con người.
Kết thúc bài thơ, Tú Xương đưa ra một kết luận đầy ý nghĩa:
Cái khôn ai cũng khôn là thế,
Mới biết trần gian kẻ dại khôn.Hai câu thơ này mang đậm tính châm biếm. Tác giả mỉa mai việc ai cũng tự cho mình là khôn ngoan, nhưng chính điều đó lại phản ánh sự “dại khôn” của con người. Qua đó, Tú Xương một lần nữa nhấn mạnh sự phức tạp trong bản chất con người và xã hội.
Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc, giàu triết lý. Việc sử dụng linh hoạt các cặp từ đối lập “khôn” và “dại” xuyên suốt bài thơ không chỉ tạo nên sự cân đối trong cấu trúc mà còn góp phần làm nổi bật chủ đề của bài thơ.
Tóm lại, bài thơ Khôn dại của Trần Tế Xương là một kiệt tác thể hiện tài năng và tư tưởng độc đáo của tác giả. Thông qua việc đặt ra những câu hỏi và nghịch lý về sự khôn dại, Tú Xương đã khéo léo phê phán những định kiến xã hội, đồng thời khuyến khích người đọc nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều, không phiến diện. Bài thơ không chỉ có giá trị văn học mà còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp người đọc suy ngẫm về bản thân và cuộc sống.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông thường gửi gắm những triết lí sâu sắc về cuộc sống và cách làm người. Bài thơ “Dại khôn” đã thể hiện rõ quan niệm sống đúng đắn của tác giả thông qua việc bàn luận về hai khái niệm “dại” và “khôn”.
Tác giả đã mở bài với nhận định rằng:
“Làm người có dại mới nên khôn,
Chớ dại ngây chi, chớ quá khôn”
Chúng ta thấy tong cuộc sống, con người cần trải qua những sai lầm, những lúc “dại” thì mới rút ra được kinh nghiệm để trở nên khôn ngoan. Tuy nhiên, ông khuyên con người không nên dại dột, cũng không nên quá khôn ranh, mà cần biết sống chừng mực, hợp lẽ phải.
Hai câu tiếp theo thể hiện cách sống khôn khéo:
“Khôn được ích mình đừng để dại
Dại thì giữ phân, chớ tranh khôn”
Người khôn là người biết bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Khi cần “dại”, con người nên biết nhường nhịn, giữ gìn đạo lí, không hơn thua tranh giành. Qua đó, tác giả khuyên con người sống hòa thuận, biết tiến biết lui trong cuộc sống.
Nguyễn Bỉnh Khiêm làm rõ bản chất của “dại” và “khôn”:
“Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”
Cái khôn đi liền với sự hiểm ác, ích kỉ thì thực chất lại là cái dại. Ngược lại, sự hiền lành, nhân hậu tuy có vẻ “dại” nhưng lại là biểu hiện của trí tuệ và nhân cách cao đẹp.
“Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại
Gặp thời, dại cũng hóa nên khôn”
Tác giả nhắc nhở con người không nên kiêu căng, coi thường người khác. Trong cuộc đời, hoàn cảnh luôn thay đổi, người tưởng chừng kém cỏi hôm nay vẫn có thể thành công khi gặp thời cơ thuận lợi.
Với bài thơ “Dại khôn” đã gửi gắm bài học sâu sắc về cách sống: con người cần biết ứng xử linh hoạt, sống hiền lành, nhân hậu và giữ vững đạo đức. Những triết lí ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, giúp mỗi người biết sống đúng đắn hơn trong cuộc đời.
Bảng tin