

viết bài văn so sánh Đường ra mặt trận của Chính Hữu và Chúng ta đi đường dài của Phạm Tiến Duật
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
Đều là những cây bút của chiến tranh, là cây những cây bút của hiện thực chiến đấu khốc liệt trong khói lửa, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đều có những tác phẩm để đời ấn tượng và tạo được tiếng vang lớn. Những mỗi nghệ sĩ lại vẽ nên những bức tranh chiến đấu với màu sắc riêng, với cái đẹp khác biệt và ấn tượng. "Đường ra mặt trận" (Chính Hữu) và "Chúng ta đi đường dài" (Phạm Tiến Duật) chính là những bức tranh như thế. Hai bài thơ đều viết về người chiến sĩ trên hành trình ra trận, song mỗi tác phẩm lại mang một màu sắc, một giọng điệu riêng.
Chính Hữu (1926 - 2007), tên khai sinh là Trần Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm thơ từ năm 1947, hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Tác phẩm Đường ra mặt trận sáng tác năm 1965, thuộc tập Đầu súng trăng treo (1972), đã được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc.
Phạm Tiến Duật (1941 - 2007), quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Bài Chúng ta đi đường dài in trong tập Ở hai đầu núi (1981).
Ta bắt gặp cái chung trong cảm hứng chủ đạo của cả hai nhà thơ, chiến tranh. Sống trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, hai người lính, hai nhà thơ coi chiến tranh là nguồn cảm hứng bất tận và cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo. Màu sắc chung của cả hai nhà thơ đều là những năm tháng khốc liệt khói lửa của chiến tranh.Và nổi bật trên nền màu khói xám xịt của bức tranh bom đạn ấy là những tình cảm đồng chí, đồng đội, tình người đầy yên bình, hòa bình, trong sáng:
Tiếng cười hăm hở, đầy sông, đầy cầu
và
Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn
Ở nơi bom đạn khắc nghiệt ấy, vẫn nở ra những đóa hoa tình bạn, tình đồng đội thật giản dị mà sâu sắc. Giữa những con người xa lạ, chỉ vừa “lên xe chưa quen nhau”, họ đã nhanh chóng trở thành “bè bạn” bởi cùng chung lý tưởng, cùng chia sẻ hiểm nguy và gian khổ. Tiếng cười “hăm hở, đầy sông, đầy cầu” trong thơ Chính Hữu vang lên như khúc nhạc vui giữa chiến trường, xua tan khói lửa, tiếp thêm sức mạnh cho những người ra trận.Những người đồng chí, đồng đội cùng cổ vũ nhau lên đường chiến đấu bình an, cùng khích lệ tinh thần nhau để tiếp thêm sức mạnh cho nhau. Cả hai tác phẩm, hai nhà thơ đều thể hiện chung một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp, tình yêu nước.Hai nhà thơ đều gặp nhau ở điểm nhìn nhân văn sâu sắc: giữa bão đạn chiến tranh, con người vẫn hướng về nhau bằng niềm tin, bằng tình yêu thương. Chính những sợi dây đồng đội vô hình ấy đã giúp họ vượt qua sợ hãi, biến gian khổ thành niềm vui, biến cuộc chiến ác liệt thành hành trình của tình người và lòng dũng cảm.
Trong cái màu sắc chung ấy vẫn nổi bật lên những đường nét riêng, dấu ấn riêng của hai nhà thơ. Trước hết là ngay từ giọng điệu thơ, mỗi tác phẩm mang một giọng điệu riêng biệt. "Đường ra mặt trận" của Chính Hữu vui tươi, khỏe khoắn, tràn đầy niềm tin và sục sôi ý chí chiến đấu, mang âm hưởng của những năm đầu kháng chiến chống Pháp – thời kỳ cả dân tộc đứng lên với niềm tin và khí thế sục sôi. "Cả nước lên đường" thiêng liêng, là nhịp bước rộn ràng của cả dân tộc cùng hòa vào khúc quân hành ra trận. Những câu thơ của Chính Hữu vang lên như một bản hùng ca tập thể, nơi người ra đi không chỉ mang theo súng đạn mà còn mang cả niềm tin, niềm vui và tình yêu Tổ quốc. Ai nấy tay súng chắc trên vai, xôi năm, cơm đùm cùng hăm hở tiến về chiến trường với tâm thế đầy niềm tin, đầy hi vọng và chiến thắng, vào hòa bình:
Những buổi vui sao, cả nước lên đường,
Xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục.
Xóm dưới làng trên, con trai con gái
Xôi nắm cơm đùm, ríu rít theo nhau
Cái “vui tươi, khỏe khoắn” ấy không phải là niềm vui hời hợt, mà là niềm vui được cống hiến, được góp sức vào công cuộc giành độc lập. Giọng thơ của ông giàu nhạc tính, khỏe về tiết tấu, mạnh trong cảm xúc, gợi nên khí thế “toàn dân kháng chiến” hào hùng.
Nếu thơ Chính Hữu có phần trang trọng, hùng tráng thì thơ Phạm Tiến Duật lại gần gũi, tự nhiên như lời tâm sự của những người lính trẻ trên đường Trường Sơn:
Khi lên xe chúng ta chưa quen nhau
Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn
Hai câu thơ ấy giản dị mà chứa đựng biết bao cảm xúc. Không có những lời thề nguyền lớn lao, không có những câu hát hùng tráng, tình đồng chí, đồng đội trong thơ Phạm Tiến Duật hiện lên nhẹ nhàng mà sâu sắc, được kết tinh trong những khoảnh khắc bình dị của đời lính. Từ chỗ “chưa quen nhau” đến khi “đã thành bè bạn”. Đó là hành trình của sự gắn bó, sẻ chia giữa những con người cùng chung lý tưởng, cùng vượt qua gian khổ, hiểm nguy:
Nơi ta ngủ cánh rừng chưa định sẵn
Nơi ta ăn, trăm tảng đá vô tình
Họ cùng ăn, cùng ngủ rừng, cùng đánh giặc, cùng "tựa lưng bốn năm tấn đạn" và cùng cháy một ngọn lửa yêu nước, cùng chiến đấu vì độc lập,hòa bình mà trở thành đồng chí, thành bạn bè.Cái “bè bạn” ấy là tình bạn mà còn là tình đồng chí, tình người trong khói lửa chiến tranh thứ tình cảm trong sáng, chân thành, làm nên sức mạnh tinh thần của cả một thế hệ.
Nếu như Chính Hữu khắc họa người lính trong bức tranh toàn cảnh thì Phạm Tiến Duật lại chọn cách đi sâu vào đời sống tâm hồn của người lính trẻ, phát hiện vẻ đẹp của họ trong những chi tiết đời thường, bình dị. Một bên là khúc quân hành hào hùng của cả dân tộc, một bên là tình đồng đội ấm áp nơi chiến trường. Chính từ sự khác biệt ấy, hai nhà thơ , hai thế hệ đã gặp nhau ở một điểm chung cao đẹp: tình yêu nước, niềm tin và vẻ đẹp nhân văn tỏa sáng giữa bom đạn chiến tranh.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin