

Em hãy viết bài văn phân tích đoạn thơ được trích từ bài "Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du ở phần Đọc Hiểu
-------------------
Được trích từ phần "Cũng có kẻ mắc vào khoá lính" cho đến "Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan"
Yêu cầu : Tối thiểu 400 chữ , nhìn điểm mà trl , được tra mạng để đọc lại phần đoạn trích nhưng ko cct3
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
"Văn tế thập loại chúng sinh" hay còn gọi là Văn chiêu hồn hoặc Văn tế chiêu hồn của đại thi hào Nguyễn Du. Dù không ai biết chính xác thời điểm sáng tác của tác phẩm này (có người thì bảo nó được sáng tác trước cả "Truyện Kiều") nhưng có một điều rất rõ ràng rằng, tác phẩm này là lời phê phán, tố cáo cãi xã hội bất công tàn nhẫn cũng như thể hiện sự cảm thông sâu sắc với mọi kiếp người. Và những lời tố cáo, phê phán cũng như cảm thông của ông được thể hiện rõ qua đoạn thơ:
"Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
...
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan."
Thời loạn lạc, có người bị cuốn vào áo lính, bị buộc phải nhập ngũ mặc dù không muốn. Qua đây, có thể liên hệ với hình ảnh người chinh phu trong tác phẩm "Nỗi niềm chinh phụ" của Đặng Trần Côn khi chàng cũng phải ra trận, phải xa gia đình, xa vợ con. Cụm từ "gồng gánh" đã diễn tả sự vất vả của người dân. Họ không chỉ phải gánh cả việc nhà mà còn bị đẩy vào, bị buộc phải gánh lấy việc của nhà nước. Ngày thường, bữa cơm của họ vốn đã đạm bạc nay lại phải "vắt nước khe, vắt gian nan". Với hình ảnh ước lệ "nước khe cơm vắt" đã khắc hoàn cảnh nghèo đói, cơ cực của người dân trong hoàn cảnh loạn lạc. Đó chính là hậu quả từ chiến tranh. Trong bài thơ "Đói" của Bàng Bá Lân cũng từng nhấn mạnh hoàn cảnh của những người dân vô tội:
"Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi ngã gục không đứng lên vì ... đói!"
Dù phải chịu cảnh "dãi dầu nghìn dặm lầm than" nhưng không phải trong chốc lát mà họ phải chịu cả cuộc đời. Câu thơ tạo nên bi kịch không phải của cá nhân mà là tất cả người dân. Câu thơ tiếp theo đã mạnh mẽ phê phán sự tàn nhẫn của chiến tranh; tại thời điểm ấy, mạng người bị xem như cỏ rác, họ dễ dàng bị những kẻ cầm quyền mang ra để làm vật hy sinh nhưng họ chẳng thể làm gì khác ngoài cam chịu chấp nhận trong bất lực. Hình ảnh trận chiến như "ngọn lửa ma trơi", như những con quái vật thiêu đốt sinh mạng của những mảnh đời vô tội. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự đáng sợ của chiến tranh và sự cảm thông cho những con người bất hạnh. Nỗi bất hạnh của người dân lớn đến nỗi tiếng kêu oan của họ vang vọng giữa trời đêm càng gợi ra sự thương cảm vô cùng cho sự bất công họ phải chịu. Họ gồng gánh cả vận mệnh dân tộc nên đành phải bỏ lỡ hạnh phúc và thậm chí còn có kẻ phải "lỡ làng một kiếp". Câu thơ đã tố cáo tội trạng của chiến tranh đã gây ra đau khổ cho tất cả mọi người. Nếu như những câu thơ trước nói về nỗi khổ cực của những con người phải lên chiến trường thì câu thơ thứ chín của đoạn thơ đã nói lên nỗi khổ của những người phụ nữ trong thời loạn lạc. Những người phụ nữ ấy vì cơm áo nên dù tuổi còn rất trẻ đã bị đẩy vào nghề buôn bán "nguyệt, hoa" và đến khi già, họ lại phải chịu cảnh bơ vơ, "ngẩn ngơ", không nơi nương tựa. Việc sử dụng câu hỏi tu từ "Ai chồng con tá biết là cậy ai"? càng làm nổi bật sự thống khổ, số phận ê chề của những người phụ nữ trong thời chiến. Cả cuộc đời họ sống "đã chịu một đời phiền não" và ngay cả khi chết cũng chỉ được người đời cho chút "cháo lá đa". Qua đó phản ánh nỗi khốn khổ tột cùng nhưng lại chỉ có chút lòng thương của số phận con người thời chiến. "Đau đớn thay phận đàn bà" là lời than cũng như thể hiện thái độ thương cảm cho số phận hẩm hiu của người đàn bà. Câu thơ "Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?" sử dụng biện pháp câu hỏi tu từ mang tính trăn trở, chất vất rằng tại sao mình lại sinh ra trong cái kiếp khổ cực như vậy.
Đoạn thơ cuối của văn bản nói về kiếp người của những kẻ hành khất $-$ những kẻ không nhà, không tình cảm, không nơi nương tựa. Câu thơ thứ ba "Thương thay một kiếp người" là câu cảm thán được rút ngắn lại cũng là lời than của người kể về một kiếp người lang thang, phiêu bạt. Khi sống thì "nhờ hàng xứ" (lòng thương của người qua đường) rồi đến khi chết đi lại "vùi đường quan". Câu thơ là hình ảnh về một cái chết bi thảm của kiếp người lang thang. Khi sống đã không tử tế rồi nhưng đến khi chết cũng không được chôn cất tử tế mà bị vùi trên đường lớn (đường của quan). Qua đó, thấy được người dân $-$ những con người vô danh không chỉ phải chịu kiếp cơ cực mà tới khi chết đi lại phải trở thành viên gạch lót đường cho những tên quan lại quyền quý.
Bài thơ với biện pháp nghệ thuật đặc sắc cùng giọng điệu oán thán, phê phán; đại thi hào Nguyễn Du đã tái hiện bi kịch xã hội thời loạn lạc, đồng thời thể hiện sự xót xa, phê phán sự tàn khốc của chiến tranh và bất công xã hội. Hơn thế nữa là sự cảm thông với những mảnh đời bất hạnh. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du còn khẳng định giá trị con người rằng ai cũng cần được sống hạnh phúc, được sum vầy, yêu thương.
@LP
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
- Đoạn thơ từ “Cũng có kẻ mắc vào khoá lính” đến “Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan” trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du khắc họa hình ảnh bi thương của những người lính trong xã hội phong kiến. Bằng ngôn từ chân thực, nhà thơ đã bày tỏ nỗi cảm thông sâu sắc với số phận nhỏ bé bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh.
Mở đầu đoạn thơ, Nguyễn Du nhắc đến những người “mắc vào khoá lính” – những thanh niên khỏe mạnh phải rời bỏ quê hương để đi lính, không phải vì lý tưởng, mà do lệnh bắt lính hà khắc. Họ ra trận trong cảnh “nước sông chén chú, núi xương đánh cờ”, hình ảnh đối lập giữa sự hào nhoáng giả tạo của kẻ cầm quyền và thực tế chết chóc trên chiến trường. Nguyễn Du không miêu tả chiến thắng, mà chỉ thấy máu và nước mắt. Những người lính ấy bị cuốn vào cuộc chiến vô nghĩa, phải bỏ lại mái ấm, cha mẹ già, người thân yêu, để rồi chết nơi đất khách, “sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan”. Đây là lời tố cáo mạnh mẽ chiến tranh phi nghĩa, đồng thời thể hiện tình thương bao la của Nguyễn Du dành cho những kiếp người vô tội.
Giọng điệu đoạn thơ vừa xót xa, vừa căm phẫn. Xót xa vì sự sống mong manh của người dân vô tội; căm phẫn vì một xã hội bất công đẩy họ vào cảnh sinh tử. Nghệ thuật đối lập, những hình ảnh hiện thực rùng rợn xen lẫn câu văn bi ai đã làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc của đoạn thơ.
Qua đó, Nguyễn Du không chỉ khắc họa nỗi đau của một lớp người mà còn lên tiếng cho khát vọng hòa bình, cho quyền sống của con người. Đoạn thơ khiến chúng ta hiểu hơn giá trị của sự sống và trân trọng cuộc sống bình yên hôm nay. Văn tế thập loại chúng sinh vì thế không chỉ là một áng văn bi thương mà còn là bản hùng ca của lòng nhân ái, thức tỉnh lương tri mọi thời đại.
--------@shinabuuuuu____----
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin