

LỜI TỰA TẬP "THƠ THƠ" CỦA XUÂN DIỆU
(Thế Lữ)
Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê, tóc như mây vương trên đài trán ngây thơ, mắt như bao luyến mọi người, và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sàng ân ái. Chàng đi trên đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. “Thơ Thơ” là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian.Và từ đây, chúng ta đã có Xuân Diệu.
Loài người hãy hiểu con người ấy!
Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian; ông đã không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời, và lời nguyện ước của ông có bao nhiêu sức mạnh:
Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,
Làm dây da, quấn quýt cả mình xuân,
Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần,
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
Là một người sinh ra để sống, Xuân Diệu rất sợ chết, sợ lặng im và bóng tối, hai hình ảnh của hư vô. Mục đích của đời người có phải là hạnh phúc đâu! Mục đích chính là sự sống. Mà còn gì làm sự sống đầy đủ hơn Xuân và Tình?
Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong bầu tim mây trời thanh sắc. Ông hăm hở đi tìm những nơi sự sống dồi dào tụ lại. Khi ông khao khát vô biên, tuyệt đích, chẳng phải ông muốn lên đến đỉnh cao nhất của sự sống đó sao? Ham yêu, biết yêu, Xuân Diệu muốn tận hưởng tình yêu, vì ông thấy tình yêu mới gồm được bao nhiêu ý nghĩa.
Nhưng Xuân không dài dặc, Tình có bền đâu! Xuân với Tình cũng vô định như sự thực không bền, và lại còn mong manh hơn cuộc đời chảy trôi. Bởi thế, Xuân Diệu vội vàng, bao giờ cũng lo âu thắc mắc. Luôn luôn tận tâm, siêng năng mà sống, ông mau mau đem hết cả tâm hồn mà tặng cho đời, và ông cũng đòi hết cả tâm hồn của người yêu dấu, của trời đất, của mọi sự vật trên trần gian.
Ta thấy cả nỗi cuống quýt sảng sốt của thi nhân giơ tay với lấy giây phút qua, bám lấy bầu xuân hồng, và rền rĩ thở than với người yêu dấu. Người tình nhân ấy có những câu não ruột thấm thía, khiến nụ cười ta rung ở miệng cùng nước mắt ứa dưới hàng mi…
Sở dĩ Xuân Diệu tham lam tình yêu, chất chứa vào lòng không chán, không đủ, không nguôi, là bởi thi sĩ rất sợ cô độc. Ông muốn biến ra nhiều thân, hoá thành muôn ức, triệu, vì ông thấy người ta đều chỉ trơ trọi một mình. Ông tìm gần gụi vì ông quá riêng tây, ông thấy nỗi mênh mông của tâm hồn nên ông muốn thành một cây kim để hút vào mình thiên hạ.
Thơ Xuân Diệu do đấy mà buồn tịch mịch ngay trong những điều ấm nóng reo vui. Lạnh lùng ám khắp mọi nơi, “xa vắng gồm tự muôn đời”, ở đâu cũng là nỗi nhớ nhung, thương tiếc. Lòng thi sĩ thấy rõ điều trái ngược: nồng nàn bởi vì thê lương, khăng khít nhưng vẫn hững hờ, bao nhiêu éo le của cảnh đời mà Xuân Diệu yêu tới đau khổ. Thơ Xuân Diệu là hơi thở thầm kín, giấu giếm, trong đó ẩn sự huyền bí ghê rợn của một đêm trăng, sự não nùng bao la của một buổi chiều, và tất cả tâm hồn khó hiểu của người, của cảnh.
Rồi càng khó hiểu, người thi sĩ càng cố tìm. Ông dò xét cái “thế giới bên trong”, lượm lặt từng sợi tơ mềm yếu, từng mảnh nhớ thương, từng vụn sầu tủi. Ông nghiệm thấy rằng:
Phải can đảm mới bền gan yếu đuối,
Phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ,
nên chịu mất một ít kiêu căng để thêm được rất nhiều sự sống. Và ông đã du ngoạn trong xứ yêu mến, nói cho ta hay những đường lối ẩn khúc quanh co.
Ông còn nghe thấu sự mơ hồ, như đã thạo dò la những điều tinh tế. Con người phức tạp cũng đơn sơ, con người thiết thực cũng mơ mộng: ông có một trái tim, nhưng ông còn có một linh hồn. Ông tỏ ra đã từng vào trong thế giới của mọi sự u huyền: hương trầm, âm nhạc, thời khắc, khói sương… tất cả đều nói cho ông những lời chi ly và những dây liên lạc.
Với những câu thơ ít lời nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu lại là một tay thợ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật dẻo dang và cần mẫn. Nhưng ở trên nhà nghệ thuật, ở trên nhà thi sĩ, ta thấy lòng ta mến yêu một linh hồn mở rộng, một tấm lòng chào đón, một con người ân ái đa tình. Người ấy chắc không cần phải quá đợi chờ, van xin, vì lẽ nào cõi đời, còn mãi mãi lạnh lùng vô tri, khi đã nghe tiếng đàn si mê của Xuân Diệu?
(Tuyển tập Thế Lữ, NXB Văn học, HN 1984)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề ở đoạn trích trên.
Câu 2. Theo người viết, nguồn gốc của những vội vàng, lo âu, thắc mắc, luôn tận tâm, siêng năng mà sống trong thơ Xuân Diệu là gì?
Câu 3. Xác định hệ thống luận điểm được triển khai trong bài viết.
Câu 4. Việc trích dẫn những vần thơ Xuân Diệu trong văn bản có tác dụng gì?
Câu 5. Nhận xét về nghệ thuật nghị luận của văn bản (cách mở đầu, dẫn dắt vấn đề, tổ chức luận điểm, ngôn ngữ, giọng văn nghị luận,...).
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
1.
- Luận đề: Bài viết ca ngợi và khẳng định tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà thơ Xuân Diệu
2.
Theo người viết, nguồn gốc của những vội vàng, lo âu, thắc mắc, luôn tận tâm, siêng năng mà sống trong thơ Xuân Diệu là gì:
+ Xuân Diệu yêu cuộc sống, gắn bó tha thiết với cõi đời.
+ Thi sĩ cảm nhận được sự mong manh, ngắn ngủi của Xuân và Tình, của tuổi trẻ và hạnh phúc, vì thế mà ông sống vội vàng sống, yêu, sáng tạo, và dâng hiến hết mình cho đời và nghệ thuật.
3.
Hệ thống luận điểm chính:
+ Xuân Diệu là một con người của đời sống.
+ Xuân Diệu yêu tha thiết mùa xuân và tình yêu, xem đó là biểu tượng của sự sống mãnh liệt.
=> Thơ Xuân Diệu tuy rực rỡ nhưng luôn ẩn chứa nỗi buồn, sự cô đơn và ám ảnh về thời gian, hư vô. Thơ Xuân Diệu vừa là kết tinh nghệ thuật, vừa là tiếng nói của một tâm hồn tha thiết, đa cảm.
4.
Tác dụng:
+ Làm rõ và minh chứng sinh động cho các luận điểm của người viết.
+ Tăng tính thuyết phục trong lập luận bằng dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm.
5.
Nghệ thuật nghị luận nổi bật của văn bản:
+Mở bài ấn tượng, giàu hình ảnh, vừa hiện thực, vừa lý tưởng.
+ Luận điểm rõ ràng, mạch lạc, được triển khai hợp lý, từ khái quát đến cụ thể.
+ Ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh, nhạc tính, nghệ thuật và các biện pháp tu từ : giúp bài viết sinh động, đầy chất thơ.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin