

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
a. Mở đoạn
- Giới thiệu nhan đề bài thơ, tên tác giả, nên cảm nghĩ chung về bài thơ.
b. Thân đoạn
- Nêu các ý thể hiện cảm xúc, suy nghĩ về một hoặc vài nét độc đáo của bài thơ
+ Nội dung
+ Hình thức nghệ thuật
c. Kết đoạn
- Khẳng định lại cảm nghĩ về bài thơ và ý nghĩa của nó đối với bản thân.
Tham khảo:
1.Ông hoàng thơ tình Việt Nam đã viết lên bài thơ “Yêu” với xúc cảm chân thành, mãnh liệt, với một trái tim dành hết cho sức sống tuổi trẻ và tình yêu đôi lứa. Bài thơ Yêu được in trong Tuyển tập Tự lực văn đoàn vào năm 2004 với cảm hứng chính là cảm xúc của tác giả khi phải trải qua mối tình đơn phương, nhưng tình cảm ấy vô cùng đặc biệt, khiến người đọc ấn tượng sâu sắc. Đối với ông, yêu là “chết ở trong lòng một ít”, vì khi yêu ta dành hết trái tim mình, trọn vẹn suy nghĩ và tình cảm dành cho đối phương, khi không được đáp lại, thì trong lòng tan vỡ từng ngày. Những giây phút được hạnh phúc, được chìm đắm trong tình yêu đối với Xuân Diệu cũng như giây phút chia biệt đầy buồn thảm, ông sợ rằng khi mình đem lòng yêu một ai đó, không có điều gì đảm bảo tình yêu sẽ mãi tồn tại như vậy, nó sẽ dần dần phai nhạt và biến mất nếu như ta không vội vàng lên, nắm lấy và cảm nhận, sống cho trọn vẹn mình với tình yêu ấy. Xuân Diệu tự gọi tên chính mình và những người đang yêu khác là những kẻ cuồng si, trao hết trái tim mình cho người tình mang tên “tình yêu”, Bằng những hình ảnh thơ giàu sức gợi hình gợi tả, ngôn ngữ giản dị nhưng lại gợi sức liên tưởng vô cùng sâu sắc cho người đọc. Bạn đọc cảm nhận được những vẻ đẹp của tình yêu. Bài thơ xứng đáng là bài thơ hay nhất viết về chủ đề tình yêu và sẽ mãi neo đậu trong trái tim bạn đọc.
2.Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh - một người con xa quê đã lâu lựa chọn đề tài trên để viết ra những tâm tình của mình. Bài thơ “Quê hương” là một trong những bài tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của ông, qua đó ta thấy được phong cách giản dị, giàu hình ảnh, thấm đượm tình cảm thiết tha. Cả bài thơ là bức tranh làng quê miền biển và khung cảnh lao động của người dân chài qua đó chúng ta thấy được Nỗi nhớ da diết, tình cảm thắm thiết của tác giả đối với quê hương của mình. Với thể thơ tám chữ hiện đại, đong đầy cảm xúc kết hợp với hình ảnh liên tưởng, so sánh, nhân hóa vô cùng độc đáo tạo nên bài thơ giản dị, gần gũi. Tế Hanh đã sử dụng một số hình ảnh đặc trưng của miền biền “dân trai tráng, chiếc thuyền, mảnh thuyền, màu nước xanh, cá bạc,...” cho chúng ta thấy được quê hương của ông luôn đậm nét không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người thi sĩ. Cùng với đó Tế Hanh cũng sử dụng các hình ảnh so sánh thú vị “Cánh thuyền to như mảnh hồn làng/ Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Cánh buồm – cái cụ thể hữu hình được so sánh với hồn làng – cái trừu tượng vô hình. Hồn làng tức linh hồn, là nét riêng sâu thẳm, linh thiêng của quê hương, của làng chài mà nhà thơ cảm nhận qua một cánh buồm giương. Hình ảnh thơ thật khoáng đạt, kỳ vĩ, mang sức vóc tung tỏa của nó. Đây cũng là sự phát hiện tinh tế, chính xác của nhà thơ: cánh buồm thân thuộc, gắn bó, không thể thiếu trong đời sống mưu sinh, biểu tượng của một làng chài. Vẫn con thuyền ra khơi, giờ đây trở về sau một ngày chạy đua cùng sóng gió được nhà thơ nhân hóa giống như một con người, một nhà hiền triết với dáng nằm thư giãn, lặng lẽ, suy tư: Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm / Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.” Nghe (cảm nhận bằng thính giác) nhưng ở đây lại nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ; sự chuyển đổi cảm giác thật tinh tế. Không chỉ con người mà ngay đến cả con thuyền cũng thấm đẫm hương vị biển, thấy vị mặn mòi của muối biển đang râm ran trong cơ thể mình hay đó chính là cái dư vị dịu êm mà giản dị của nhịp đời miền quê biển. Nếu không gắn bó, yêu thương quê hương mình bằng tình cảm trong sáng, đằm thắm thì nhà thơ không thể cảm nhận và thể hiện được một cách tài hoa, sinh động những vẻ đẹp của người quê, cảnh quê trong những câu thơ tươi tắn, nồng nàn như vậy. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”.
3.Không phải ngẫu nhiên mà Rasul Gamzatov đã từng tâm niệm rằng: “ Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn”. Thật vậy, thi ca muôn đời là nơi bộc lộ những trở trăn, nhưng nghĩ suy thổn thức của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc đời. Và thơ Lưu Quang Vũ cũng chính là những nỗi niềm chân thành của thi nhân. Đến với thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, người đọc sẽ bắt gọn những cảm xúc đầy xúc động, để lại những dư âm, dư ba qua thi phẩm mang tên “Tiếng Việt”.
Lưu Quang Vũ là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch tài năng. Bài thơ “Tiếng Việt” của nhà thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Bài thơ đã ca ngợi sự giàu đẹp của tiếng việt: vừa giản dị, mộc mạc, vừa phong phú, sâu sắc. Tiếng việt có sức sống mãnh liệt, thấm đẫm giá trị dân tộc, bồi đắp tâm hồn, tình yêu dân tộc. Bằng lời thơ chân thành, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã thể hiện tình yêu, niềm tự hào, sự trân trọng với Tiếng việt.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ không sử dụng những khái niệm trừu tượng để lí giải Tiếng việt mà người nghệ sĩ đã sáng tạo nên một thế giới hình ảnh sinh động, gần gũi với cuộc sống của chúng ta, đó là tiếng mẹ gọi, tiếng cha dặn, tiếng kéo gỗ, câu hát, lời ru,...
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
...
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.
Âm thanh hiện lên trong câu thơ là những âm thanh đậm tình, sâu lắng, những âm thanh gắn liền với cuộc sống hằng ngày. Đó là âm thanh của tiếng mẹ gọi, tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, tiếng lụa, tiếng cha dặn,.. Những âm thanh nghe sao mà thiết tha.
Tình yêu tiếng Việt in sâu vào tâm khảm mỗi người từ những ngày bé thơ khi tập đọc ê a từng con chữ đầu lòng:Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếnmg nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
Tiếng Việt là kết quả của Tình yêu và Lao động. Mọi mặt của đời sống dân tộc đã làm nên hồn cốt của tiếng việt. Bởi vậy chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói. Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc. Nhà thơ Lưu Quang Vũ rất tài hoa khi sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để khái quát đặc trưng tiếng nói của dân tộc. Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ. Đây là một phát hiện mới mẻ của thi sĩ. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh quen thuộc, gần gũi, mang đậm bản sắc dân tộc, đó là hình ảnh đất cày, lụa, tre ngà, tơ. Hai câu thơ giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp mộc mạc, chân chất, khỏe khoắn, vừa mềm mại, dịu dàng, vừa cứng cỏi lại óng ả của Tiếng Việt.
Người Việt Nam ngày nay có đầy đủ lý do và bằng chứng để tự hào về tiếng Việt của mình. Vẻ đẹp của tiếng Việt đến từ mọi khía cạnh, đến từ cả sự giàu đẹp và đa dạng của tiếng Việt. Âm điệu của tiếng Việt đa dạng và trầm bổng nhờ hệ thống 4 dấu gồm: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng:
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
Thật vậy, chúng ta thấy ngôn ngữ tiếng Việt có hệ thống dấu thanh rất đa dạng. Mỗi một dấu thanh khi sử dụng giống như một nốt nhạc. Với những thanh bằng như huyền, ngang giống như những nốt trầm. Những thanh trắc như sắc hỏi, ngã nặng lại giống như những thanh cao. Tiếng Việt còn có hệ thống ngữ âm rất phong phú lại rất đa dạng về ngữ nghĩa. Ông cha ta vẫn thường hay nói Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam. Là một người dân Việt Nam chúng ta có quyền tự hào về sự giàu đẹp của tiếng Việt. Chúng ta cũng cần có trách nhiệm giữu gìn sự giàu đẹp ấy.
Mỗi một khổ thơ là mỗi cung bậc cảm xúc khác nhau. Bằng lời thơ chân thành, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã thể hiện niềm trân trọng, nó như lời nhắc nhở thế hệ trẻ ngôn ngữ ngàn đời của dân tộc
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình
Từ cảm thán vang lên như lời chân tình sâu nặng của nhà thơ. Tiếng việt là kết quả lao động vất vả của những người nhân dân. Người nhân dân đã lao động, sáng tạo, đổ biết bao mồ hôi công sức, chịu đựng bao vất vả, bao hi sinh để gìn giữ, vun đắp cho tiếng việt ngày càng giàu đẹp. Qua đó, nhà thơ đã ca ngợi sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam, cần cù, chịu thương, chịu khó, ân tình, thủy chung son sắt. Nhà thơ nhắc nhở thế hệ mau sau phải biết giữ gìn, phát huy thứ ngôn ngữ của dân tộc.
Tiếng Việt là một bài thơ hay, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Kết thúc tác phẩm nhưng nó vẫn để lại trong lòng người đọc biết bao ấn tượng sâu sắc, là bài học về lòng yêu nước, giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
“Cúc ơi...Cúc ơi...”
(Đoàn Xuân Miền)
Kính tặng hương hồn 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc.
Cả tiểu đội ta đã về đông đủ
A trưởng điểm danh - thiếu một - Cúc ơi!
Buổi trưa nay vẫn giòn tiếng em cười
Mà chiều tối - một bóng người đã vắng.
Trận đánh chiều nay vô cùng căng thẳng
Cuốc xẻng, sức người đọ với bom B
Nguyên tiểu đội mình nguyện trọn lời thề
“Mười cô gái quyết giữ đường, thông tuyến”
Bom thù ném xuống trời rung, đất chuyển
Mười bóng hồng vẫn trụ vững ngày đêm.
Bởi thương em nên tay cứng - đá mềm
Bàn tay, cuốc xẻng bới tìm em suốt buổi.
Da em xanh, tóc mượt mà như suối
Tấm áo mỏng mấy lần rách - mảnh bom.
Bao người tìm em cuốc vẹt, xẻng mòn
Mà không thấy - Cúc ơi, em ở đâu!
Thương Mẹ quê nghèo, đồng trũng, ruộng sâu
Bài toán lớp năm em làm còn dở
Áo gối, khăn thêu - nỗi niềm thương nhớ
Quýt Sơn Bằng, sông Ngàn Phố chờ em.
Đồng đội tìm em từ chiều đến đêm
Cơm tối chưa ăn, đũa găm, bát úp
Mọi người khóc em, trời như đổ sụp
Khản tiếng gọi gào - Cúc ơi...Cúc ơi...
-----------------------------------------
Bài làm:
Bài thơ " Cúc ơi ... Cúc ơi ... " của nhà thơ Đoàn Xuân Miền là một tiếng gọi xé lòng vọng về từ ngã ba Đồng Lộc , nơi mười cô gái thanh xuân đã vĩnh viễn nằm xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc . Bài thơ không chỉ là lời tưởng nhớ nghẹn ngào mà còn là khúc tráng ca về sự hy sinh cao cả , về tình đồng đội thiêng liêng . Ngay từ lần đầu đọc, em đã bị ám ảnh bởi nỗi đau mất mát không gì bù đắp được , đồng thời trào dâng niềm kính phục vô hạn trước tinh thần bất khuất của những người con gái Việt Nam . Bài thơ như một nén hương trầm , âm thầm nhưng sâu sắc , khắc ghi vào trái tim người đọc những giá trị nhân văn cao đẹp .
Bài thơ tập trung khắc họa sự mất mát và nỗi đau khôn nguôi của đồng đội khi Cúc , một thành viên trong tiểu đội , đã anh dũng hy sinh trong một trận bom ác liệt . Mở đầu bài thơ là tiếng gọi " Cúc ơi...Cúc ơi... " đầy khắc khoải , như một vết cắt ngang không gian và thời gian , thể hiện sự bàng hoàng , không tin vào sự thật đau đớn . Câu thơ " A trưởng điểm danh - thiếu một - Cúc ơi ! " như một nhát dao cứa vào lòng người đọc , sự vắng mặt của Cúc trở thành một khoảng trống không thể lấp đầy trong đội hình vốn đã gắn bó keo sơn . Sự đối lập giữa " buổi trưa nay vẫn giòn tiếng em cười " và " chiều tối - một bóng người đã vắng " càng làm nổi bật sự đột ngột , nghiệt ngã của chiến tranh , cướp đi sinh mạng một cách tàn nhẫn . Những câu thơ tiếp theo tái hiện sự khốc liệt của chiến trường Đồng Lộc , nơi " cuốc xẻng , sức người đọ với bom B " . Hình ảnh mười cô gái " nguyện trọn lời thề : “ Mười cô gái quyết giữ đường , thông tuyến ” " thể hiện ý chí kiên cường , tinh thần quả cảm và lòng trung thành tuyệt đối với nhiệm vụ thiêng liêng . Dù " bom thù ném xuống trời rung , đất chuyển " , những " mười bóng hồng " ấy vẫn " trụ vững ngày đêm " , trở thành biểu tượng cho sức mạnh mềm dẻo nhưng kiên định của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến . Tình đồng đội sâu sắc được thể hiện qua hành động " tay cứng - đá mềm " , " bàn tay , cuốc xẻng bới tìm em suốt buổi " . Sự lo lắng , xót thương cho Cúc khiến những người đồng đội dường như quên đi hiểm nguy , dốc hết sức lực để tìm kiếm người em , người đồng chí thân yêu . Những hình ảnh " da em xanh , tóc mượt mà như suối " , " tấm áo mỏng mấy lần rách - mảnh bom " gợi lên vẻ đẹp dịu dàng , nữ tính của Cúc , đồng thời tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh đã hủy hoại những điều tươi đẹp nhất . Câu hỏi " Mà không thấy - Cúc ơi , em ở đâu ! " vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào , thể hiện sự bất lực và nỗi đau đớn tột cùng . Bài thơ còn gợi nhắc về những điều bình dị , thân thương trong cuộc sống của Cúc : " Thương Mẹ quê nghèo , đồng trũng , ruộng sâu " , " Bài toán lớp năm em làm còn dở " , " Áo gối , khăn thêu - nỗi niềm thương nhớ " , " Quýt Sơn Bằng , sông Ngàn Phố chờ em " . Những chi tiết nhỏ bé này càng làm nổi bật sự trẻ trung , hồn nhiên và những ước mơ , khát vọng còn dang dở của Cúc . Sự ra đi của em không chỉ là nỗi mất mát của đồng đội mà còn là nỗi đau của gia đình , của quê hương . Khổ thơ cuối cùng khắc sâu hơn nữa nỗi đau và sự bàng hoàng của những người ở lại : " Đồng đội tìm em từ chiều đến đêm / Cơm tối chưa ăn , đũa găm , bát úp / Mọi người khóc em , trời như đổ sụp / Khản tiếng gọi gào - Cúc ơi ... Cúc ơi ... " . Hình ảnh " cơm tối chưa ăn , đũa găm , bát úp " diễn tả sự lo lắng , bồn chồn và nỗi đau đến mức không còn thiết tha gì đến bản thân . Tiếng khóc nghẹn ngào của đồng đội như hòa lẫn vào tiếng " gọi gào " xé lòng " Cúc ơi ... Cúc ơi ... " , tạo nên một không khí tang thương , bao trùm cả không gian . Về hình thức , bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ , với nhịp điệu chậm rãi , trầm lắng , phù hợp với cảm xúc đau buồn , tiếc thương . Cách gieo vần chân ở cuối mỗi dòng thơ tạo nên sự liên kết chặt chẽ về âm thanh , đồng thời tăng thêm tính nhạc điệu và sự da diết cho bài thơ . Ngôn ngữ thơ giản dị , mộc mạc nhưng giàu sức gợi , sử dụng nhiều hình ảnh chân thực , gần gũi như " cuốc xẻng " , " bom B " , " áo mỏng " , " quýt Sơn Bằng " , " sông Ngàn Phố " để tái hiện một cách sinh động bối cảnh chiến tranh và cuộc sống bình dị của người con gái . Điệp ngữ " Cúc ơi ... Cúc ơi ... " được lặp lại ở đầu và cuối bài thơ như một tiếng vọng đau thương , khắc sâu vào tâm trí người đọc nỗi nhớ thương da diết . Bố cục bài thơ mạch lạc , diễn biến theo trình tự thời gian và cảm xúc , từ sự bàng hoàng , lo lắng đến nỗi đau xót tột cùng khi mất đi người đồng đội thân yêu .
Bài thơ " Cúc ơi ... Cúc ơi ... " của nhà thơ Đoàn Xuân Miền không chỉ là một bài thơ tưởng niệm mà còn là một tượng đài bất tử về sự hy sinh cao cả của mười cô gái ngã ba Đồng Lộc . Bài thơ đã chạm đến những sợi rung cảm sâu thẳm nhất trong trái tim em , khơi gợi lòng biết ơn vô hạn đối với những người đã ngã xuống vì độc lập , tự do của dân tộc . Nỗi đau mất mát , tình đồng đội thiêng liêng và vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái thanh xuân sẽ mãi là nguồn cảm hứng bất tận cho những thế hệ mai sau . Em tin rằng bài thơ sẽ tiếp tục sống mãi trong lòng độc giả , nhắc nhở chúng ta về giá trị của hòa bình và sự hy sinh cao đẹp .
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin