

Quê mình
Nguyễn Thế Kỷ
Đưa con về thăm quê
Cha gặp lại tuổi mình ngày thơ dại
Mấy dãy ao làng sen còn thơm mãi
Hoa gạo rơi xao xác sân đình.
Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh1
Xa ngái2 nào cũng mơ về núi Gám3
Hạt giống đồng chiêm gieo vào tâm khảm
Vẫn xanh tươi góc bể chân trời.
Quê mình là vậy đó con ơi
Bát cơm con ăn, ân tình con gặp
Mùi chua của bùn, vị nồng của đất
Với cha, hơn cả bạc vàng.
Bến bờ nào ông bà dắt con sang
Dòng đục dòng trong, câu thương câu giận
Thương cụ đồ xưa bút nghiên lận đận
Đỗ trạng rồi còn lội ruộng vinh quy.4
Đất quê mình nâng bước cha đi
Để có con hôm nay trở lại
Như sông suối về nơi biển ấy
Lại góp mưa xanh mát mạch nguồn.
Yên Thành, 6/1992
(In trong Về lại triền sông, NXB Văn học, năm 2017, tr 53)
Nguyễn Thế Kỷ sinh năm 1960, quê ở xã Liên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh
Nghệ An. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Về lại triền sông (2017), Nhớ thương ở lại
(2019), Chuyện tình Khau Vai (2019),...
* Chú thích
(1) Sông Dinh, (3) Núi Gám: thuộc tỉnh Nghệ An.
(2) Xa ngái: xa xôi.
(4) Vinh quy: trở về làng một cách vẻ vang sau khi thi đỗ.
II. VIẾT (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ “Quê mình” của Nguyễn Thế Kỷ.(mb: giới thiệu tác giả, tác phẩm, TB: khái quát tác giả, tác phẩm, nhan đề, luận điểm-trích thơ- phân tích, nghệ thuật)
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Bài thơ “Quê mình” của Nguyễn Thế Kỷ là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, sự biết ơn với cội nguồn và khát vọng truyền lại tình cảm ấy cho thế hệ sau. Được viết trong hoàn cảnh đặc biệt – khi người cha đưa con về thăm quê – bài thơ không chỉ là lời tự sự của riêng tác giả mà còn là tiếng lòng của biết bao người con xa quê luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Nguyễn Thế Kỷ sinh năm 1960, quê ở xã Liên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông không chỉ là một nhà văn, nhà thơ mà còn là một nhà hoạt động văn hóa. Với chất giọng nhẹ nhàng, dung dị, thơ ông thường chứa đựng tình cảm sâu lắng, thể hiện tình yêu gia đình, quê hương và truyền thống dân tộc. Bài thơ “Quê mình” được sáng tác vào tháng 6 năm 1992 tại chính quê hương ông – Yên Thành – là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách và cảm xúc ấy.
Ngay từ những dòng thơ đầu tiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc vào một không gian đầy hoài niệm: “Đưa con về thăm quê / Cha gặp lại tuổi mình ngày thơ dại”. Hành trình trở về không chỉ là hành trình địa lý mà còn là hành trình về với ký ức tuổi thơ. Hình ảnh “mấy dãy ao làng sen còn thơm mãi” gợi lên vẻ đẹp yên bình, thân thuộc, vừa thực vừa đầy chất thơ. Những hình ảnh dân dã như hoa gạo, sông Dinh, núi Gấm, đồng chiêm,... hiện lên không chỉ là khung cảnh của một vùng quê mà còn là biểu tượng cho hồn quê, cho cái chất mộc mạc, bình dị đã nuôi dưỡng tâm hồn người con đất Nghệ.
Bên cạnh thiên nhiên, bài thơ còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp của con người quê hương – những con người hiền lành, chất phác, luôn yêu lao động và sống tình nghĩa. Tình cảm ấy được thể hiện qua những dòng thơ đầy xúc động: “Quê mình là vậy đó con ơi / Bát cơm con ăn, ăn tình con gặp / Mùi chua của bùn, vị nồng của đất / Với cha, hơn cả bạc vàng.” Ở đây, hình ảnh “bát cơm”, “mùi bùn”, “vị đất” được nâng lên thành giá trị tinh thần, tượng trưng cho tình nghĩa, cho sự gắn bó máu thịt với đất đai và con người quê hương. Tình yêu ấy không phải là điều gì cao sang, xa lạ mà chính là những điều nhỏ bé, giản dị nhưng sâu sắc, là thứ “hơn cả bạc vàng”.
Không chỉ gợi nhắc về ký ức và tình yêu quê hương, bài thơ còn truyền tải một thông điệp đầy ý nghĩa: biết ơn tổ tiên, gìn giữ và tiếp nối truyền thống tốt đẹp. Hình ảnh “ông bà dắt con sang”, “cụ đồ xưa bút nghiên lận đận”, “đỗ trạng rồi còn lội ruộng vinh quy” thể hiện sự trân trọng đối với truyền thống hiếu học, đối với công lao của các thế hệ đi trước đã làm rạng danh quê hương. Đó là một dòng chảy văn hóa liên tục, bền bỉ, là sức mạnh tinh thần nuôi dưỡng mỗi người dân từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, với giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết như lời tâm tình của người cha với con. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi, nhiều hình ảnh thân thuộc và mang tính biểu tượng cao. Tác giả khéo léo kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình, làm cho bài thơ vừa sâu lắng về cảm xúc, vừa giàu tính tự nhiên, đời thường mà vẫn đầy chất thơ. Những hình ảnh thiên nhiên và con người quê hương được sắp xếp đan xen, tạo nên một bức tranh tổng thể sống động và chan chứa yêu thương.
Tóm lại, bài thơ “Quê mình” là một bản tình ca dịu dàng và chân thành về quê hương, là nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ, là cội nguồn của tình yêu thương và những giá trị sống tốt đẹp. Qua lời thơ sâu lắng, Nguyễn Thế Kỷ không chỉ thể hiện tình cảm cá nhân mà còn khơi gợi niềm tự hào, tình yêu đối với quê hương trong lòng mỗi người. Đó là một thông điệp ý nghĩa: hãy luôn nhớ về cội nguồn, biết ơn nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng ta nên người.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Nguyễn Thế Kỷ (sinh năm 1960, quê Yên Thành, Nghệ An) là nhà thơ, nhà báo, nhà văn nổi tiếng với những sáng tác giàu tình cảm quê hương đất nước. Bài thơ “Quê mình” là một khúc ca trữ tình sâu lắng, được viết dưới dạng lời tâm tình của người cha dành cho con khi đưa con về thăm quê. Qua đó, tác giả không chỉ tái hiện vẻ đẹp bình dị, thân thương của làng quê Bắc Trung Bộ mà còn gửi gắm tình yêu tha thiết, niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc đối với cội nguồn, đồng thời khơi dậy trách nhiệm giữ gìn, tiếp nối mạch nguồn quê hương ở thế hệ trẻ.
Mở đầu bài thơ là cảnh người cha đưa con về thăm quê, khơi dậy dòng hồi ức tuổi thơ:
Đưa con về thăm quê Cha gặp lại tuổi mình ngày thơ dại Mấy dãy ao làng sen còn thơm mãi Hoa gạo rơi xao xác sân đình.
Câu thơ đầu mang tính tự sự gần gũi, ấm áp, gợi tình cha con gắn bó. Biện pháp nhân hóa “cha gặp lại tuổi mình ngày thơ dại” biến quê hương thành người bạn cũ thân thiết, khiến ký ức ùa về sống động. Hình ảnh quen thuộc của làng quê Nghệ An hiện lên chân thực: ao làng sen thơm ngát quanh năm, hoa gạo đỏ rực rơi xao xác trên sân đình làng – biểu tượng trung tâm văn hóa thôn quê. Những chi tiết này không chỉ gợi không gian thôn dã yên bình mà còn khơi dậy nỗi nhớ da diết, niềm xúc động khi quê hương vẫn nguyên vẹn sau bao năm tháng.
Không gian quê hương được mở rộng từ gần đến xa, từ thực tại đến tâm tưởng ở khổ thứ hai:
Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh Xa ngái nào cũng mơ về núi Gấm Hạt giống đồng chiêm gieo vào tâm khảm Vẫn xanh tươi góc bể chân trời.
Sông Dinh, núi Gấm (núi Gám) là địa danh thực của huyện Yên Thành – quê hương tác giả. Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ và hoán dụ để khẳng định: dù con người có phiêu bạt đến bất kỳ bến bờ nào, dù xa xôi “góc bể chân trời”, quê hương vẫn luôn hiện diện trong tâm trí như sóng sông dội về bờ, như giấc mơ hướng về núi Gấm. Hình ảnh “hạt giống đồng chiêm gieo vào tâm khảm” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: quê hương là nguồn cội văn hóa, đạo đức, tình người được gieo mầm từ thuở ấu thơ, mãi mãi xanh tươi, bất diệt dù thời gian và không gian có đổi thay.
Đến khổ thứ ba, tình cảm được đẩy lên cao trào, khẳng định giá trị tinh thần vượt trội của quê hương:
Quê mình là vậy đó con ơi Bát cơm con ăn, ân tình con gặp Mùi chua của bùn, vị nồng của đất Với cha, hơn cả bạc vàng.
Giọng điệu trở nên thủ thỉ, ân cần với cách xưng hô “con ơi” thân mật. Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê những điều giản dị nhất: bát cơm nuôi dưỡng thể xác, ân tình nuôi dưỡng tâm hồn, “mùi chua của bùn”, “vị nồng của đất” – những thứ tưởng chừng tầm thường nhưng lại là nguồn sống chân thực, đậm đà tình người. So sánh “hơn cả bạc vàng” nhấn mạnh giá trị tinh thần vượt lên vật chất: quê hương không chỉ cho ta sự sống mà còn cho ta nhân cách, đạo đức, tình nghĩa – những thứ quý giá hơn mọi của cải trần thế. Đây là lời nhắc nhở con về lòng biết ơn sâu sắc với cội nguồn.
Khổ cuối khép lại bài thơ bằng hình ảnh giàu tính triết lí và giàu sức gợi:
Bến bờ nào ông bà dắt con sang Dòng đục dòng trong, câu thương câu giận Thương cụ đồ xưa bút nghiên lận đận Đỗ trạng rồi còn lội ruộng vinh quy. Đất quê mình nâng bước cha đi Để có con hôm nay trở lại Như sông suối về nơi biển ấy Lại góp mưa xanh mát mạch nguồn.
Tác giả nhắc đến truyền thống hiếu học, cần cù lao động của người dân quê: “cụ đồ xưa bút nghiên lận đận / Đỗ trạng rồi còn lội ruộng vinh quy” gợi tinh thần “sĩ nông công thương” hài hòa, dù đỗ đạt vẫn gắn bó với ruộng đồng, không xa rời cội nguồn. Hình ảnh so sánh cuối cùng “như sông suối về nơi biển ấy / Lại góp mưa xanh mát mạch nguồn” rất đẹp và sâu sắc: con người dù đi xa vẫn hướng về quê hương như sông suối về biển, và chính quê hương là mạch nguồn nuôi dưỡng, làm cho đời sau xanh tươi, dạt dào sức sống.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể lục bát truyền thống, nhịp điệu êm đềm, uyển chuyển, phù hợp với giọng điệu tâm tình, thủ thỉ của người cha. Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, giàu hình ảnh cảm xúc (sen thơm, hoa gạo rơi, mùi bùn chua, vị đất nồng). Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, liệt kê, hoán dụ được sử dụng tinh tế, giúp bài thơ vừa giản dị vừa sâu lắng, dễ đi vào lòng người.
Tóm lại, “Quê mình” của Nguyễn Thế Kỷ là một bài thơ hay về đề tài quê hương, thể hiện tình yêu tha thiết, niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc đối với mảnh đất chôn rau cắt rốn. Qua lời cha dạy con, bài thơ gửi gắm thông điệp ý nghĩa: dù cuộc sống có đổi thay, con người hãy luôn nhớ về nguồn cội, trân trọng những giá trị giản dị mà thiêng liêng của quê hương, và có trách nhiệm tiếp nối, làm xanh tươi mạch nguồn ấy cho các thế hệ mai sau. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của tác giả mà còn là lời nhắc nhở ấm áp, sâu sắc dành cho mỗi chúng ta trong thời đại hiện đại.
Chúc bạn học tốt
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin