

ĐỀ 3
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) - Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Mái trường xưa
(Trần Văn Lợi)
Biết tuổi thơ có trở lại hai lần?
Để tiếng trống chiều nay thêm thương nhớ
Tôi như chiếc lá bàng sau bão gió
Đợi âm thầm hình bóng tuổi xưa yêu.
Tôi nhớ từng viên ngói phủ mờ rêu
Lũ chim sẻ ê a ngoài cửa sổ
Những hàm số ngổn ngang trên trang vở
Bài viết nào xộc xệch mấy câu văn.
Quả bàng non ấp ủ những tháng năm
Tôi đợi hoài ước mơ chưa chín nổi
Cái đáo, hòn bi, tiếng chim vồi vội
Trốn tìm nhau ngang dọc tiếng nói cười.
Nắng nghịch ngầm giấu nét chữ xinh tươi
Mưa hờn dỗi tìm mấy ngày chẳng thấy
Cái bím tóc đuôi gà hoe hoe ấy
Còn cong môi ngúng nguẩy nữa hay không!…
Đâu bài thơ tôi viết mãi chưa xong
Thời gian lấp kín dần bao trang vở
Hoa bàng trắng rồi đến mùa phượng đỏ
Và tóc thầy bụi phấn cứ trắng hơn.
Giữa cuộc đời bè bạn vắng nhau luôn
Để mỗi bận hoa cúc vàng trước ngõ
Tiếng trống xui nhớ nôn nao trường cũ
Thơ gieo vần bát ngát sắc vàng thu…
Câu 1: (0,5đ) Chỉ ra nét độc đáo trong cách gieo vần, ngắt nhịp của 2 khổ thơ đầu và nêu tác dụng của cách gieo vần, ngắt nhịp đó?
Câu 2: (0,5đ) Tìm trong khổ thơ thứ 2 những hình ảnh, từ ngữ chỉ nỗi nhớ của tác giả về trường xưa? Nhận xét về những từ ngữ, hình ảnh đó?
Câu 3: (1đ) Tìm và phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ trong 2 câu thơ:
“Nắng nghịch ngầm giấu nét chữ xinh tươi
Mưa hờn dỗi tìm mấy ngày chẳng thấy”
Câu 4: (1đ) Xác định bố cục và cảm hứng chủ đạo của bài thơ?
Câu 5: (1đ) Nêu chủ đề và căn cứ xác định chủ đề của bài thơ.
Câu 6: (1đ) Bài thơ gửi đến cho em thông điệp gì? Hãy viết thành 1 đoạn văn ngắn (3-5 câu) nêu thông điệp đó.
PHẦN II. VIẾT (5,0 điểm): Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về bài thơ “ Mái trường xưa” của Trần Văn Lợi.
Cứu mik với mai mik thi rồiiiiiiiiiiiii
SOSSSSSSS
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
Câu 1:
Cách gieo vần, ngắt nhịp:
Bài thơ có cách gieo vần linh hoạt, nhịp thơ không đều có sự đan xen giữa nhịp 4/4 và nhịp 3/3/2
Tác dụng: Cách gieo vần và ngắt nhịp như vậy làm tăng tính nhạc cho bài thơ, tạo nhịp điệu trầm lắng gợi nỗi nhớ nhung, hoài niệm về mái trường xưa.
Câu 2:
Trong khổ thơ thứ 2 những hình ảnh, từ ngữ chỉ nỗi nhớ của tác giả về trường xưa: viên ngói phủ mờ rêu, lũ chim sẻ ê a ngoài cửa sổ, những hàm số trên trang vở, bài viết nào xộc xệch mấy câu văn.
=> Những hình ảnh và từ ngữ này hiện lên thật chân thực và gần gũi với tuổi hoc trò. Những năm tháng thanh xuân rực rỡ bên mái trường thân yêu. Qua những hình ảnh đã gợi nên những cảm xúc dạt dào thể hiện nỗi nhớ sâu đậm của tác giả cũng như mỗi con người về một khoảng ký ức đầy hoài niệm.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ được sử dụng: nhân hóa "nắng nghịch ngầm, mưa hờn dỗi"
-Tác dụng:
+ Giúp cho câu thơ thêm hay, sinh động gợi hình gợi cảm, tăng hiệu quả diễn đạt, hấp dẫn người đọc.
+ Với việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa khiến cho thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi như một phần kí ức của tuổi thơ. Đồng thời thể hiện rõ nét tinh nghịch, trong sáng hồn nhiên như những cô cậu học trò. Qua đó gợi nên không gian thân thuộc nơi mái trường với biết bao hoài niệm, góp phần làm nổi bật nỗi nhớ của tác giả.
Câu 4:'
Bố cục: Bài thơ có thể chia làm 3 phần:
Phần 1: Khổ 1-2: Nỗi nhớ về hình ảnh mái trường thân yêu
Phần 2: Khổ 3-4: Những kỉ niệm thời học trò hồn nhiên và trong sáng, rực rỡ thanh xuân.
Phần 3: Khổ 4-5: Sự thay đổi của thời gian và nỗi hoài niệm về mái trường, tình cảm với thầy cô và bạn bè.
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Nỗi nhớ nhung hoài niệm về mái trường dấu yêu xưa-nơi gắn với kỉ niệm của tuổi học trò
Câu 5:
Chủ đề cảu bài thơ: Nỗi nhớ nhung da diết về mái trường và tình cảm gắn bó với kỉ niệm tuổi học trò, thầy cô và bạn bè.
Căn cứ xác định:
+ Sử dụng nhiều những từ ngữ và hình ảnh gợi nhắc về mái trường và ký ức tuổi học trò
+ Cảm xức xuyên suốt và chủ đạo của bài thơ là cảm xúc bồi hồi, nhớ nhung về những năm tháng học trò thanh xuân.
Câu 6:
Thông qua bài thơ tác giả đã gửi đến bạn đọc những thông điệp sâu sắc. Bài thơ nêu ra giá trị của tuổi học trò và nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng và gìn giữ những khoảnh khắc quý và viết nên những trang thanh xuân tươi đẹp. Tuổi học trò là quãng thời gian đáng nhớ nhất. Những kỉ niệm thân thương bên thầy cô, bạn hữu và mái trường sẽ mãi in sâu trong ký ức trở thành hành trang quý giá trên mỗi bước đường ta đi. tuổi học trò như cơn mưa rào mùa hạ vội đến vội đi. Dù ướt đẫm trong cơn mưa ấy ta vẫn muốn một lần đắm mình để cảm nhận trọn vẹn sự vô tư, hồn nhiên và những khoảnh khắc đáng giá của ngày tháng thanh xuân. Để rồi khi trưởng thành ta nhìn lại và nhận ra ta đã có khoảng thời gian đẹp đến nhường nào! Hãy sống hết mình và tận hưởng trọn vẹn những giây phút của tuổi học trò bạn nhé!
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Câu 1:
Trong hai khổ thơ đầu, nét độc đáo trong cách gieo vần là sự kết hợp giữa vần chân và vần lưng một cách linh hoạt.
Khổ 1: Vần chân "lần" - "thầm" - "yêu". Nhịp thơ chủ yếu là nhịp chẵn 2/2/3 (Biết tuổi thơ có trở lại hai lần? / Để tiếng trống chiều nay thêm thương nhớ / Tôi như chiếc lá bàng sau bão gió / Đợi âm thầm hình bóng tuổi xưa yêu).
Khổ 2: Vần chân "rêu" - "vở" - "văn". Vần lưng "sẻ" - "ê a". Nhịp thơ đa dạng hơn, có sự ngắt nhịp linh hoạt, tạo cảm giác như những dòng hồi ức đang ùa về (Tôi nhớ từng viên ngói phủ mờ rêu / Lũ chim sẻ ê a ngoài cửa sổ / Những hàm số ngổn ngang trên trang vở / Bài viết nào xộc xệch mấy câu văn).
Tác dụng: Cách gieo vần và ngắt nhịp này tạo ra một âm hưởng vừa trầm lắng, vừa da diết, thể hiện dòng cảm xúc nhớ thương man mác của tác giả về những kỷ niệm tuổi thơ gắn liền với mái trường xưa. Sự kết hợp giữa vần chân và vần lưng tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các câu thơ, đồng thời sự thay đổi nhịp điệu linh hoạt giúp diễn tả chân thực những hình ảnh, âm thanh sống động của một thời đã qua.
Câu 2:
- Những hình ảnh, từ ngữ trong khổ thơ thứ hai thể hiện nỗi nhớ của tác giả về trường xưa là:
+ Hình ảnh: "từng viên ngói phủ mờ rêu", "lũ chim sẻ ê a ngoài cửa sổ", "những hàm số ngổn ngang trên trang vở", "bài viết nào xộc xệch mấy câu văn".
+ Từ ngữ: "Tôi nhớ".
- Nhận xét: Những từ ngữ, hình ảnh này đều rất bình dị, quen thuộc, gợi lên một không gian trường học thân thương, gần gũi. Chi tiết "từng viên ngói phủ mờ rêu" gợi tả dấu vết thời gian, sự cũ kỹ, thân thuộc của ngôi trường. Âm thanh "ê a" của "lũ chim sẻ" tạo nên một khung cảnh yên bình, trong trẻo. Hình ảnh "những hàm số ngổn ngang trên trang vở" và "bài viết nào xộc xệch mấy câu văn" tái hiện một cách chân thực những khoảnh khắc học tập hồn nhiên, có chút vụng về của tuổi học trò. Tất cả những điều này cho thấy tác giả nhớ về trường xưa không chỉ là nhớ về một địa điểm mà còn là nhớ về những chi tiết nhỏ nhặt, những khoảnh khắc đời thường đã in sâu trong tâm trí.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu thơ này là nhân hóa.
- Phân tích tác dụng:
+ "Nắng nghịch ngầm giấu nét chữ xinh tươi": Việc gán cho "nắng" hành động "nghịch ngầm giấu" như một đứa trẻ tinh nghịch tạo ra hình ảnh sinh động, đáng yêu. Nó gợi lên cảm giác những dòng chữ trên trang vở dưới ánh nắng có thể bị nhòe đi, phai mờ theo thời gian. Đồng thời, từ "nghịch ngầm" còn thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận của tác giả về sự thay đổi của thời gian, của những kỷ niệm.
+ "Mưa hờn dỗi tìm mấy ngày chẳng thấy": Tương tự, việc nhân hóa "mưa" với tâm trạng "hờn dỗi" và hành động "tìm mấy ngày chẳng thấy" mang đến một hình ảnh mưa như đang cố gắng xóa đi những dấu vết của quá khứ, những kỷ niệm tươi đẹp. Sự "hờn dỗi" của mưa có thể hiểu là sự tiếc nuối, sự biến mất của những điều đã từng tồn tại.
Câu 4:
- Bố cục: Bài thơ có thể chia thành ba phần:
+ Phần 1 (2 khổ đầu): Nỗi nhớ da diết về mái trường xưa và những hình ảnh thân thương gắn liền với ký ức tuổi thơ.
+ Phần 2 (2 khổ tiếp theo): Những kỷ niệm cụ thể về những trò chơi, những khoảnh khắc học tập, và hình ảnh thầy cô, sự thay đổi của thời gian.
+ Phần 3 (khổ cuối): Sự trưởng thành, nỗi nhớ trường cũ mỗi khi mùa cúc vàng về, và sự vĩnh cửu của những vần thơ về mái trường.
- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ thương, luyến tiếc sâu sắc về mái trường xưa, về những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò đã qua. Bài thơ thể hiện tình cảm trân trọng, biết ơn đối với thầy cô và mái trường đã nuôi dưỡng tâm hồn tác giả.
Câu 5:
- Chủ đề của bài thơ là nỗi nhớ và tình cảm sâu nặng đối với mái trường xưa, nơi lưu giữ những ký ức đẹp đẽ của tuổi học trò.
- Căn cứ xác định chủ đề:
+ Nhan đề "Mái trường xưa" đã trực tiếp gợi mở về đối tượng chính của bài thơ.
+ Xuyên suốt bài thơ, tác giả liên tục sử dụng các hình ảnh, chi tiết gợi nhớ về trường lớp, bạn bè, thầy cô, những hoạt động quen thuộc của tuổi học trò ("tiếng trống chiều nay", "viên ngói phủ mờ rêu", "lũ chim sẻ", "hàm số ngổn ngang", "quả bàng non", "cái đáo, hòn bi", "nắng nghịch ngầm", "mưa hờn dỗi", "cái bím tóc đuôi gà", "hoa bàng trắng", "mùa phượng đỏ", "tóc thầy bụi phấn").
+ Các từ ngữ thể hiện trực tiếp cảm xúc nhớ thương như "thương nhớ", "Tôi nhớ", "đợi hoài", "nhớ nôn nao" khẳng định tình cảm chủ đạo của tác giả.
Câu 6:
Bài thơ "Mái trường xưa" gửi đến em thông điệp về sự trân trọng những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò và mái trường. Thời gian có thể trôi đi, con người có thể trưởng thành và xa cách, nhưng những ký ức về những năm tháng học trò hồn nhiên, trong sáng vẫn luôn sống mãi trong trái tim mỗi người. Hãy biết ơn và giữ gìn những tình cảm quý báu đó, bởi chúng là hành trang tinh thần vô giá trên con đường trưởng thành của chúng ta.
*VIẾT:
Ôi chao, bài thơ "Mái trường xưa" của Trần Văn Lợi này thật sự chạm vào trái tim người đọc một cách nhẹ nhàng mà sâu lắng quá đỗi! Đọc xong, trong lòng tôi như có một làn gió thoảng qua, mang theo cả hương vị của những ngày tháng cắp sách tới trường đã xa xôi. Cái cảm giác thương nhớ man mác, bâng khuâng ấy cứ lan tỏa, khiến mình như thấy lại chính mình trong hình ảnh chiếc lá bàng tả tơi sau cơn bão, âm thầm đợi chờ bóng dáng của những kỷ niệm yêu dấu. Từng chi tiết nhỏ nhặt trong bài thơ, từ viên ngói phủ rêu phong, tiếng chim sẻ ríu rít bên cửa sổ, đến những con số, dòng chữ nguệch ngoạc trên trang vở, tất cả hiện lên thật sống động và chân thực. Nó khơi gợi trong tôi bao nhiêu là ký ức về một thời hồn nhiên, vô tư lự. Đặc biệt, hình ảnh quả bàng non ấp ủ bao ước mơ chưa kịp chín, rồi những trò chơi tinh nghịch như đáo, bi, trốn tìm... sao mà thân thương đến thế! Cái cách tác giả nhân hóa nắng, mưa, rồi cả bím tóc đuôi gà ngúng nguẩy nữa, thật là đáng yêu và gợi cảm. Nó không chỉ vẽ nên một bức tranh về mái trường xưa mà còn tái hiện một cách tinh tế những rung động, những cảm xúc trong trẻo của tuổi học trò. Đến khổ thơ cuối, khi thời gian cứ lặng lẽ trôi, hoa bàng trắng nhường chỗ cho phượng đỏ, tóc thầy thêm sợi bạc, thì cái nỗi nhớ trường cũ lại càng trở nên da diết, nôn nao. Hình ảnh hoa cúc vàng trước ngõ như một nốt trầm xao xuyến, khép lại bài thơ bằng một dư âm thật đẹp, thật buồn, như một vần thơ thu vàng vương vấn mãi trong lòng người đọc. Nói chung, "Mái trường xưa" của Trần Văn Lợi là một bài thơ giản dị mà sâu sắc, nó không chỉ là nỗi nhớ về một không gian vật lý mà còn là nỗi nhớ về một quãng thời gian tươi đẹp đã qua, về những người bạn, người thầy, và cả những ước mơ còn dang dở. Bài thơ này chắc chắn sẽ còn ngân nga mãi trong lòng những ai đã từng trải qua những năm tháng học trò đầy ắp kỷ niệm.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin
420
6433
478
vô nhóm mik ko bạn