

tìm giúp tớ đoạn trích "Sáng tác của Bế Kiến Quốc" hoặc đoạn trích đấy nói về sáng tác của Bế Kiến Quốc với ạ
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
(Bài thơ “Tự nhủ” của Bế Kiến Quốc )
Khi con người dám sống hết mình vì tình yêu, dám đặt niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, ta sẽ có cơ hội chạm đến được hạnh phúc đích thực
“Bàn chân ơi ta đưa người đi
Mọi nẻo đương, - dù có khi ngươi vấp
Có khi dẫm vào gai, và biết đâu, có khi...
Ta phải đi, vì ta yêu mục đích.
Vành tai ơi, ta đưa ngươi đi
Đến miệng đời - dù nghe lời đắng chát
Lời thô bỉ, và biết đâu, có khi...
Ta phải nghe, vì ta yêu tiếng hát.
Cặp mắt ơi, ta đưa ngươi đi
Đến mọi nơi, thấy mọi điều đích thực
Dù thấy điều xót xa, và biết đâu, có khi...
Ta phải nhìn, vì ta yêu cái đẹp.
Trái tim ơi, ta đưa ngươi đi
Khỏi lồng ngực của ta
Hiến dâng người trái đất
Dù có buồn, dù có xót xa,
Dù có lúc nỗi đau ngừng nhịp đập...
Ta phải yêu, vì ta tin hạnh phúc”.
(Tự nhủ, Bế Kiến Quốc, 1987)
Trong vũ trụ mênh mông của nghệ thuật, mỗi câu, mỗi chữ đều mang trong mình một mạch nguồn sống riêng, một linh hồn riêng, đều là một cuộc đối thoại đặc biệt giữa tâm hồn nghệ sĩ với thế giới xung quanh như Lê Ngọc Trà đã từng soi rọi: “Đối với nghệ sĩ, câu chữ, màu sắc, âm thanh không chỉ là chướng ngại cần chinh phục, vượt qua mà chúng còn là những sinh thể, những sự vật có hồn.” Với “Tự nhủ”, Bế Kiến Quốc đã làm nên điều kỳ diệu ấy khi thổi vào từng câu thơ một hơi thở sống động, tạo nên một tác phẩm độc đáo về nghệ thuật và gửi gắm những thông điệp sâu sắc về tình yêu và niềm tin về hạnh phúc. Trong bài thơ, tác giả đã khéo léo sử dụng chuỗi hình ảnh độc đáo và giàu sức gợi, nơi mỗi bộ phận cơ thể được nhân hóa trở thành một nhân vật đối thoại đầy ý nghĩa. Qua đó, bàn chân, vành tai, cặp mắt và trái tim trở thành bạn đồng hành đặc biệt, cùng chủ thể trữ tình dệt nên bức tranh đa chiều về sự trưởng thành của tâm hồn. Nếu bàn chân - biểu tượng cho hành trình khám phá và trải nghiệm phải trải qua những thử thách gian truân từ “vấp” đến “dẫm vào gai” trên đường đời, thì vành tai chính là biểu tượng cho sự lắng nghe, tiếp thu, gợi mở về một tâm hồn rộng mở sẵn sàng đón nhận mọi thanh âm cuộc sống, từ những lời “đắng chát”, “thô bỉ” đến những “tiếng hát” ngọt ngào. Nếu cặp mắt can đảm, kiên định nhìn thẳng vào sự thật khi chứng kiến “điều xót xa” phản ánh những nghịch cảnh đau thương thì trái tim - sự đồng hành cuối cùng và cao quý nhất chính là biểu tượng của tình yêu thương, sự đồng cảm, là lý tưởng sống cao đẹp mà con người luôn khao khát hướng tới, lại sẵn sàng vượt thoát khỏi lồng ngực để “hiến dâng người trái đất”. Đoạn thơ thứ tư với số lượng câu thơ nhiều hơn ba đoạn thơ trước đó đã vượt ra khỏi mọi giới hạn, mọi khuôn mẫu cùng điệp từ “dù" xuất hiện ba lần như một lời thề nguyện: “Dù có buồn, dù có xót xa, dù có lúc nỗi đau ngừng nhịp đập...” - mỗi từ “dù” là một lần khẳng định sức mạnh của tình yêu vượt lên trên mọi thử thách, mọi gian truân. Ngay cả khi nỗi đau có thể khiến tim “ngừng nhịp đập” thì nó vẫn kiên định với lựa chọn của mình. Có lẽ, tình yêu chỉ thực sự trọn vẹn khi nó vượt qua ranh giới của cái tôi cá nhân để hòa vào dòng chảy rộng lớn của nhân loại như cách Xuân Quỳnh từng băn khoăn trong “Sóng”: “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”. Lời tuyên ngôn về một tình yêu thương bao la, rộng lớn, vượt lên trên những giới hạn của bản thân trong “Tự nhủ” đã trở thành động lực để con người sống đẹp, sống có ích, sẵn sàng sẻ chia và cống hiến cho cuộc đời. Phép điệp cấu trúc “và biết đâu, có khi...” xuất hiện như những khoảng lặng đầy ám ảnh, mang theo dự cảm về những thử thách chưa thể gọi tên đã không thể làm nao núng ý chí của người đi tìm lẽ sống. Đặc biệt, thi nhân đã khép lại mỗi khổ thơ bằng một khẳng định mạnh mẽ: “vì ta yêu mục đích”, “vì ta yêu tiếng hát”, “vì ta yêu cái đẹp”, và cuối cùng - “vì ta tin hạnh phúc”. Sự chuyển biến tinh tế từ “yêu” sang “tin” ở câu cuối “Ta phải yêu, vì ta tin hạnh phúc” và sự tương phản giữa độ dài của khổ thơ thứ tư và câu kết ngắn gọn này càng làm tăng thêm ấn tượng cho thông điệp cuối cùng của bài thơ, khẳng định một niềm tin sâu sắc vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Niềm tin vào hạnh phúc sẽ trở thành động lực để yêu thương - một sự nghịch đảo tinh tế, khi không phải vì ta yêu nên ta tin vào hạnh phúc, mà chính niềm tin vào hạnh phúc đã thôi thúc ta phải yêu. Bởi khi ta tin rằng hạnh phúc là có thật, rằng cuộc đời dù có muôn vàn đắng cay nhưng vẫn luôn chứa đựng những điều tốt đẹp, ta sẽ tìm thấy trong chính mình một nguồn sức mạnh vô tận để yêu thương. Niềm tin ấy như một ngọn đèn soi đường, giúp ta nhìn thấy ý nghĩa của sự dâng hiến, của những hy sinh và thấy được vẻ đẹp ngay cả trong những điều tưởng chừng đau đớn nhất. Chỉ có tình yêu mới có thể vượt qua được mọi giới hạn của nỗi đau, của sợ hãi, của những toan tính ích kỷ. Chỉ có tình yêu mới đủ sức mạnh để biến những điều tưởng chừng bất khả thành khả năng, biến những ước mơ xa vời thành hiện thực. Từ một cuộc đời yêu và sống hết mình, nhà thơ Tố Hữu từng chiêm nghiệm: “Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó”, quả thật, khi đọc “Tự nhủ” của Bế Kiến Quốc, ta dường như được nghe thấy tiếng nói của một trái tim đang rạo rực yêu thương, của một tâm hồn đang khao khát dâng hiến kí thác vào từng câu chữ. Nơi ấy, mỗi bước chân, mỗi rung động của trái tim đều là những minh chứng sâu sắc cho niềm tin vào cái đẹp và hạnh phúc đích thực, “truyền thổi vào tâm hồn người đọc một niềm tin, một tình yêu bát ngát vào cuộc sống” (Nguyễn Minh Châu). Đó chính là điều làm nên giá trị vĩnh hằng của "Tự nhủ” - một tác phẩm mà qua bao năm tháng, thông điệp về “tình người”, tình yêu thương vẫn cứ sáng mãi, soi đường cho bao tâm hồn đang kiếm tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Đánh giá năm sao giúp mình nha
Chúc bạn học tốt
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

phân tích td phép lặp
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin