

Đọc văn bản sau:
(1) Do phải làm việc tái tạo đời sống, là tiếng nói tình cảm, văn thơ đòi hỏi phải có ngôn ngữ riêng cho nó. Trong ngôn ngữ khoa học hay văn chính luận, tính gợi cảm chỉ đóng vai trò thứ yếu hay không đáng kể. Còn trong văn học, nhất là trong thơ, từ ngữ được chọn không chỉ sát đúng về mặt ngữ nghĩa mà còn ở khả năng khêu gợi, truyền cảm có thể đóng góp vào âm hưởng và tình điệu chung. Nếu khái niệm là cái vốn có ý nghĩa phổ biến ngang nhau đối với mỗi người thì cảm xúc, tâm trạng, dòng ý thức là sự thể nghiệm riêng của mỗi người, và ở mỗi người mỗi lúc một khác, giống như con sông bờ bến y nguyên nhưng dòng chảy thì không bao giờ ngừng nghỉ.
(2) Một bài thơ hay là khi người ta cảm thấy tất cả phải như thế, không xê xích vào đâu được, không thể thay dù chỉ là một từ, một chỗ ngắt giọng nào. Giữa bao nhiêu cách diễn đạt, giữa hàng bao nhiêu từ có thể vận dụng được, chỉ có từ ấy là đúng, là đắc địa thôi. Nhưng chính xác ở đây không phải như trong khoa học hay trong văn chính luận. Có thể nói từ ngữ mang tính nghệ thuật vừa chính xác cao độ, vừa không chính xác. Chính xác, vì ở đây, sai “một li đi một dặm", không thể để tồn tại cái li này, nghĩa là chỉ có từ ấy, cách diễn đạt ấy thôi, không đánh đổi vào đâu được. Nhưng nó cũng không chính xác, vì khác với ngôn ngữ trong khoa học, nó không theo nguyên tắc "mỗi từ một khái niệm", "từ nào nghĩa ấy", mà nghĩa của nó lan tràn, di động, nó mang ý nghĩa ngoài lời
(3) L. Tônxtôinói rằng: “mỗi từ ngữ nghệ thuật... được phân biệt với từ ngữ không có tính chất nghệ thuật, ở chỗ nó đã gợi được vô số các ý tưởng, ý muốn và cách hiểu". Từ ngữ không có tính nghệ thuật trước hết nhằm chỉ ra hay truyền đạt một sự vật, một điều gì được xác định hay một nội dung được giới hạn chặt chẽ. Còn trong văn học nghệ thuật, sức mạnh của từ là ở chỗ "ngoài các biểu tượng được kéo theo trực tiếp ra, còn kéo theo một loạt các biểu tượng khác đột khởi lên trong tâm trí ta một cách tự nhiên, không hề có ý, như Côrôlencô đã vạch ra. Gôgôn cũng đã nói về ngôn ngữ của Puskin:" Từ thì ít nhưng được dùng một cách chính xác nên có thể nói lên tất cả. Trong mỗi từ là cả một không gian lồng lộng, mỗi từ ngữ là mênh mông như chính nhà thơ".
(4) Nghệ sĩ ngôn từ là người cảm thụ từ ngữ một cách vật thể, cho nó thấm tận làn da, thở thịt, lay động đến tận tâm can cân não của mình. Anh ta sống với từ ngữ, hít thở cái chất sống tiềm ẩn trong mỗi tử, cũng như biết hà hơi tiếp sức cho nó. Từ ngữ đưa vào thơ ca như được lấy lại sự sống nguyên sơ, khi mà lần đầu tiên nó vọt ra từ tâm trí con người trong những tình huống sống động khác nhau nhưng từ lâu lắm, trải qua năm tháng, dùng đi dùng lại, nó bị hao mòn đến nỗi nhẫn thin, thành nhợt nhạt, im lim, bất động, tuột mất phần hồn chỉ còn trơ lại phần xác thành những từ ngữ chết - cho đến khi nó được ngòi bút của một Nguyễn Du, một Xuân Hương. một Nguyễn Gia Thiều đoái hoài đến, lay tỉnh nó, vực nó dậy đem nhân lên cái phập phồng, rạo rực, trăn trở, sinh sôi tưởng chúng đã bị đánh mất, thế là cuộc tái sinh màu nhiệm đã xảy ra. Nhưng cái hay, cái đẹp của từ ngữ trong thơ văn không phải ai cũng hiểu thấu, mà thường chỉ cảm thấy một cách lờ mờ, bàng bạc, không phân tích, không nói ra được. Từ ngữ ở các nhà văn, nhà thơ lớn như chữa sẵn trong nó năng lượng, chất nổ tổng hợp của tư tưởng, tình cảm, ấn tượng, cảm giác chờ đợi mỗi lái của “bình giảng" để bật lên những trăng pháo giòn giã, sường tai, vui mắt, dọn cho người đọc những bữa tiệc ngôn từ thật ngon lành, sảng khoái. Và cái chính là qua từ ngữ mà đi vào tâm hồn, đi vào cốt lõi của đời sống xã hội và cá nhân
(5) Đời sống vừa hữu hạn, vừa vô hạn. Ngôn ngữ thơ ca có ý nghĩa xác định, hữu hạn của nó, đồng thời cũng phải nói lên được, gọi ra được cái vô hạn, vô hồi của sự sống, nó như thật như bư, khi ẩn khi hiện, biến hòa khôn lường. Cái sức sống kỳ diệu của Truyện Kiều không tách rời khỏi ý nghĩa xã hội, ý nghĩa của nhân loại, cũng như với cái hàm xúc, dư bạ, cải tằng tằng lớp lớp của văn chương, của ngôn ngữ tuyệt vời của Nguyễn Du.
(Theo Lê Đình Kỵ , Nghiên cứu phê bình văn học, NXB Giáo dục, 2000, tr.14)
Câu 1: Xác định luận đề của văn bản
Câu 2: Nêu tên những tác giả, tác phẩm được lấy làm dẫn chứng trong đoạn trích trên
Câu 3: Nhận xét về tính thuyết phục của đoạn (2)
Câu 4: Tcá giả đã sử dụng cách trích dẫn nào trong đoạn (3)? Nêu tác dụng của cách trích dẫn đó
Câu 5: Theo em, đoạn trích gửi tới người sáng tác văn học thông điệp gì?
Câu 6: Qua đoạn trích, anh/chị hãy rút ra ít nhất một bài học cho người tiếp cận văn chương
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Câu 1:
Luận đề của văn bản là vai trò, sức mạnh và giá trị nghệ thuật của ngôn ngữ trong văn chương, đặc biệt là trong thơ ca.
Câu 2:
Tác giả: L. Tônxtôi, Côrôlencô, Gôgôn, Puskin, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều.
Tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Câu 3: Đoạn (2) có tính thuyết phục cao nhờ:
- Lập luận chặt chẽ: Phân tích kỹ sự chính xác và không chính xác của từ ngữ trong văn chương.
- Lý lẽ sâu sắc: So sánh từ ngữ trong khoa học và văn chương để làm nổi bật đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật.
- Dẫn chứng sinh động: Đưa ra các nhận định khái quát nhưng dễ hiểu, giúp người đọc cảm nhận rõ ràng về vai trò của ngôn ngữ trong thơ ca.
Câu 4: Tác giả đã sử dụng cách trích dẫn nào trong đoạn (3)? Nêu tác dụng của cách trích dẫn đó
Cách trích dẫn: Trích dẫn trực tiếp (lời của L. Tônxtôi, Côrôlencô, Gôgôn).
`=>` Tác dụng: Tăng tính thuyết phục bằng việc sử dụng ý kiến của các nhà văn, nhà tư tưởng lớn.
Củng cố lập luận của tác giả, giúp người đọc hiểu rõ hơn về đặc trưng của ngôn ngữ văn chương.
Tạo sự khách quan và liên kết với truyền thống nghiên cứu về văn chương.
Câu 5: Theo em, đoạn trích gửi tới người sáng tác văn học thông điệp gì?
Người sáng tác văn học cần trân trọng và khai thác tối đa sức mạnh của từ ngữ, vì mỗi từ đều mang trong mình khả năng biểu đạt vô hạn. Sáng tạo và làm mới ngôn ngữ, tránh lối viết hời hợt, rập khuôn, làm cho từ ngữ trở nên sống động, có hồn. Không chạy theo hình thức mà cần tập trung vào chiều sâu ý nghĩa, để từ ngữ có thể “vực dậy” những giá trị nghệ thuật và tư tưởng.
Câu 6: Qua đoạn trích, anh/chị hãy rút ra ít nhất một bài học cho người tiếp cận văn chương
Đọc văn chương không chỉ nhìn vào mặt chữ mà cần cảm nhận chiều sâu ngôn ngữ, bởi mỗi từ trong tác phẩm đều có sức gợi và ý nghĩa nghệ thuật riêng. Trân trọng những giá trị nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương, không chỉ đánh giá nội dung mà còn phải hiểu cách tác giả sử dụng từ ngữ để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc. Khi bình giảng hay phân tích tác phẩm, cần chú ý đến từng từ ngữ, câu chữ, vì đó là nơi chứa đựng linh hồn của văn chương.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

câu 1:
- Luận đề của văn bản là vai trò, sức mạnh của ngôn ngữ trong thơ ca và văn học nghệ thuật
câu 2:
- Dẫn chứng
+ L. Tôn-xtoi
+ Côrôlencô
+ Nguyễn Du (truyện Kiều)
+ Hồ Xuân Hương
+ Nguyễn Gia Thiều
câu 3:
- Đoạn 2 có tính thuyết phục cao do lập luận chặt chẽ và so sánh chính xác giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ khoa học. Việc nhấn mạnh sự chính xác trong nghệ thuật là "sai một li đi một dặm" vừa thể hiện sự khắt khe vừa cho thấy giá trị của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca, văn học.
câu 4:
- Cách trích dẫn: trích lời nhận xét và đánh giá của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng về ngôn ngữ nghệ thuật
- Tác dụng: làm tăng độ chính xác và độ đáng tin cậy cho lập luận, giúp làm nổi bật vai trò và giá trị đặc biệt của từ ngữ nghệ thuật qua những quan điểm uy tín, giàu tính chuyên môn
câu 5:
- Thông điệp: người sáng tác văn học phải trân trọng, nâng niu và sáng tạo với từng từ ngữ. Mỗi từ không chỉ để truyền đạt mà phải gợi cảm xúc, gợi suy nghĩ, làm sống dậy cả một không gian nghệ thuật, chạm vào tâm hồn người đọc.
câu 6:
- Bài học: bạn chọn 1 trong 2 bài học dưới nhé
1. Khi tiếp cận văn chương, người đọc cần cảm nhận tinh tế từng từ ngữ, bởi ẩn sau mỗi từ là cả một thế giới ý nghĩa, cảm xúc, tư tưởng mà nhà văn gửi gắm.
2. Đừng đọc văn chương một cách hời hợt, hãy đọc bằng cả trái tim và lý trí để hiểu hết cái hay, cái đẹp trong từng câu chữ.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

Bảng tin