

Đọc văn bản sau:
Công danh đã được hợp về nhàn, Lành dữ âu chỉ thế nghị khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
Bui có một lòng trung lẫn hiểu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh Niên, 2003, tr:87)
5: Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thực ?
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát có ương sen ?
Câu 6: Hình ảnh con người Nguyễn Trãi hiện lên như thế nào qua hai câu thơ :
Kho thu phong nguyệt đầy qua
nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
Câu 7: Hai câu thơ kết gợi cho anh chị nhớ đến câu thơ nào trong bài Cảnh ngày hè? Qua những câu thơ này anh chị thấy vẻ đẹp gì trong tâm hồn Nguyễn Trãi ?
Câu 8: Xác định nội dung chính của bài thơ ?
Câu 9: Nêu những sáng tạo nghệ thuật mang tính dân tộc hóa trong bài thơ ?
Câu 10: Anh chị có thích lối sống nhàn trong bài thơ không ? Vì sao ? Hãy viết thành 1 đoạn văn ngắn 7-10 dòng để trả lời câu hỏi trên ?
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Câu 5
“Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.”
- Biện pháp tu từ: Phép đối (song hành) kết hợp với liệt kê.
- Phân tích tác dụng:
+ Hai dòng thơ được sắp xếp cân xứng: “ao cạn” – “đìa thanh”, “vớt bèo” – “phát cỏ”, “cấy muống” – “ương sen”. Sự đối xứng này nhấn mạnh tính nhịp nhàng, hài hòa của các hoạt động lao động nơi thôn dã.
+ Những hình ảnh “vớt bèo”, “cấy muống”, “phát cỏ”, “ương sen” liệt kê công việc thường ngày, gợi không khí dung dị, gần gũi của cuộc sống điền viên. Qua đó, thể hiện lối sống an nhàn, chan hòa với thiên nhiên và niềm vui giản dị của Nguyễn Trãi khi lui về ẩn dật.
Câu 6
“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.”
- Trong hai câu thơ này, Nguyễn Trãi hiện lên là một con người biết lấy “phong nguyệt” (gió trăng), “yên hà” (mây khói) – những giá trị tinh thần, vẻ đẹp thiên nhiên – làm “tài sản” quý báu cho mình.
- “Kho thu phong nguyệt” và “thuyền chở yên hà” gợi hình ảnh một tâm hồn rộng mở, ung dung, thanh cao, xem nhẹ của cải vật chất. Đồng thời, ông cho thấy sự đủ đầy về mặt tinh thần: niềm vui, hạnh phúc đến từ việc hòa hợp với thiên nhiên, từ chính những trải nghiệm tâm hồn sâu lắng.
Câu 7
- Hai câu kết trong bài thơ:
“Bui có một lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.”
thường gợi nhớ đến những câu cuối trong Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới số 43) của Nguyễn Trãi:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Cả hai đều bộc lộ tấm lòng luôn lo cho dân, cho nước, thể hiện chí hướng và đạo lý trung quân ái quốc.
- Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi: Dù ẩn dật, an nhàn, ông vẫn canh cánh nỗi lo cho xã tắc, mong muốn nhân dân ấm no, hạnh phúc. Lòng trung hiếu “mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” chứng tỏ sự kiên định, trong sáng, không gì có thể lay chuyển. Đó là vẻ đẹp của một bậc hiền tài, suốt đời một lòng hướng về dân tộc.
Câu 8
Bài thơ thể hiện tâm trạng và lối sống nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn Trãi sau khi đã hoàn thành công danh. Dù chọn cuộc sống điền viên an nhàn, ông vẫn giữ vẹn đạo trung hiếu, luôn đau đáu với đất nước, thể hiện nhân cách cao quý của bậc trí thức ẩn dật nhưng không quên trách nhiệm với non sông.
Câu 9
- Ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi đời sống dân dã: “Ao cạn vớt bèo cấy muống”, “đìa thanh phát cỏ ương sen”... Đây đều là những công việc, cảnh vật quen thuộc ở thôn quê Việt Nam.
- Tâm hồn hòa hợp thiên nhiên: Thay vì dùng những điển tích, điển cố quá xa lạ, tác giả dùng ngay cảnh sắc và hoạt động lao động hằng ngày để khắc họa lối sống ẩn dật.
- Thể hiện rõ tinh thần “nhàn” nhưng không quên “trung hiếu”: Một nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt, luôn đề cao tình yêu nước, lòng trung quân ái quốc.
Câu 10
Tôi rất thích lối sống nhàn trong bài thơ bởi nó gợi lên hình ảnh một cuộc đời thanh thản, không vướng bận danh lợi. Giữa bộn bề lo toan, con người có thể trở về với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui từ những điều giản dị như “vớt bèo cấy muống”, “phát cỏ ương sen”. Cuộc sống ấy không chỉ nuôi dưỡng tinh thần mà còn giúp mỗi người thêm hiểu, thêm yêu quê hương, đất nước. Dù vậy, lối sống nhàn của Nguyễn Trãi không tách rời khỏi trách nhiệm đối với cộng đồng, bởi ông luôn giữ vững lòng trung hiếu, sẵn sàng dấn thân khi Tổ quốc cần. Điều này cho thấy, sống nhàn không đồng nghĩa với trốn tránh bổn phận, mà là biết tìm sự cân bằng giữa đời sống cá nhân và trách nhiệm xã hội. Sự hòa quyện giữa “nhàn” và “trung hiếu” ấy chính là vẻ đẹp nhân cách, là nguồn cảm hứng cho thế hệ sau noi gương. Vì thế, lối sống nhàn trong thơ Nguyễn Trãi luôn khiến tôi cảm phục và mong muốn hướng đến.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

Bảng tin