

Đọc đoạn trích sau:
Tóm tắt: Thị Kính – con gái nhà nghèo, lấy chồng là Thiện Sỹ, con nhà phú ông. Một đêm, Thiện Sỹ ngồi đọc sách mệt mỏi nên ngủ thiếp đi, Thị Kính thấy dưới cằm chồng có sợi râu mọc ngược, cho là điềm gở nên cầm dao định cắt đi. Thiện Sỹ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình nên hô hoán lên. Bố mẹ Thiện Sỹ không nghe lời phân giải của Thị Kính, đuổi nàng về nhà bố mẹ đẻ. Đau buồn, Thị Kính toan tự vẫn nhưng thương cha mẹ già, nàng cải trang thành nam nhân, đổi tên là Kính Tâm và tìm lên chùa quy y.
Đoạn trích sau đây nói về tâm trạng của Thị Kính sau khi mắc phải nỗi oan giết chồng, đã tìm đến quy y cửa Phật:
Nàng từ dở bước vu quy,
Nhân duyên thôi có nghĩ gì như ai.
Đã oan vì chiếc tăng hài,
Mặt nào mà lại đi hai lần đò.
Trách người sao nỡ dày vò,
Để cho Tiểu Ngọc giận no đến già.
Nhạn hàng phỏng có đôi ba,
Thà rằng nhắm mắt hơn là buồn tênh
Tội vì phận liễu một cành,
Liều đi thì để mối tình cậy ai.
Phòng riêng vò võ hôm mai,
Trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm.
Buồng trong giọt ngọc đầm đầm,
Mùi ăn không nhớ giấc nằm chẳng ngon.
Sực cười sự nhỏ cỏn con,
Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn.
Vì chi chút phận hồng nhan,
Cành hoa nở muộn thì tàn mà thôi.
Xót thay tóc bạc da mồi,
Vì ai nên nỗi đứng ngồi chẳng khuây.
Dày vò chút phận thơ ngây,
Sự vui chưa thấy thấy ngay sự phiền.
Lấy chi báo đức sinh thành,
Dễ đem má phấn mà đền trời xanh.
Phân tích đoạn trích(trên)truyện thơ Nôm “Quan Âm Thị Kính” (Trích Quan Âm Thị Kính, truyện thơ Nôm khuyết danh, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 10, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.397-398)
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Truyện thơ Nôm “Quan Âm Thị Kính” là một tác phẩm tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phản ánh số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà còn ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ. Đoạn trích dưới đây khắc họa sâu sắc nỗi đau và tâm trạng xót xa của Thị Kính sau khi bị vu oan, bị đuổi khỏi nhà chồng và phải rời bỏ cuộc sống gia đình để quy y cửa Phật.
Đoạn trích mở đầu bằng nỗi đau đớn, tủi hổ của Thị Kính khi phải rời bỏ con đường làm dâu, từ bỏ mối nhân duyên mà nàng từng kỳ vọng. Câu thơ “Nhân duyên thôi có nghĩ gì như ai” chất chứa nỗi uất ức và đau lòng khi duyên phận bị chấm dứt một cách oan ức. Đối với Thị Kính, việc quay lại con đường tình duyên như người khác là điều không thể. Câu “Mặt nào mà lại đi hai lần đò” không chỉ là lời tự trách mà còn phản ánh định kiến khắc nghiệt của xã hội phong kiến đối với phụ nữ. Thị Kính, dù oan ức, vẫn không dám vượt ra khỏi rào cản ấy, thể hiện rõ sự bất lực trước số phận.
Tâm trạng của Thị Kính càng bi ai hơn khi nàng nghĩ về tuổi thanh xuân và tương lai. Những câu thơ như “Thà rằng nhắm mắt hơn là buồn tênh” hay “Liều đi thì để mối tình cậy ai” gợi lên hình ảnh một người phụ nữ đau khổ, muốn tìm đến cái chết để trốn tránh nghịch cảnh, nhưng lại không thể vì còn lo cho cha mẹ già yếu. Đây là sự giằng xé nội tâm của Thị Kính giữa khát vọng giải thoát và lòng hiếu thảo – một đức tính cao quý của người phụ nữ trong xã hội truyền thống.
Đoạn thơ cũng khéo léo miêu tả nỗi cô đơn của Thị Kính qua hình ảnh “Phòng riêng vò võ hôm mai, trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm.” Cảnh ngộ phải sống cô độc, bị người đời ruồng bỏ khiến nàng rơi vào cảm giác vô vọng và trống trải. Cách miêu tả này không chỉ làm nổi bật bi kịch của nhân vật mà còn gợi lên sự thương cảm sâu sắc trong lòng người đọc.
Về nghệ thuật, đoạn thơ mang những nét đặc sắc tiêu biểu của thể thơ Nôm. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà thấm đẫm cảm xúc, truyền tải rõ nét nỗi khổ tâm của nhân vật. Nghệ thuật so sánh và ẩn dụ được sử dụng tinh tế, chẳng hạn như hình ảnh “phận liễu một cành” biểu trưng cho thân phận mỏng manh, yếu đuối của người phụ nữ hay câu “bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn” phản ánh việc những bất công nhỏ nhoi có thể trở thành nỗi oan nghiệt khổng lồ trong xã hội phong kiến bất công. Bên cạnh đó, thủ pháp đối lập giữa những niềm vui nhỏ bé với nỗi đau khôn cùng cũng làm tăng thêm chiều sâu cảm xúc trong thơ.
Đoạn trích không chỉ khắc họa số phận đau khổ của Thị Kính mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc. Tác phẩm lên án chế độ phong kiến với những lễ giáo khắc nghiệt, bất công đã áp đặt và đẩy người phụ nữ vào bi kịch. Đồng thời, qua nhân vật Thị Kính, tác giả còn ngợi ca đức hy sinh, lòng bao dung và sự chịu đựng cao cả của người phụ nữ. Trong nghịch cảnh, Thị Kính vẫn giữ trọn tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, không đánh mất phẩm giá và lòng hướng thiện của mình.
Đoạn trích “Quan Âm Thị Kính” không chỉ là lời kể về nỗi oan nghiệt của một người phụ nữ mà còn là bản trường ca về vẻ đẹp tâm hồn và đức hi sinh của họ. Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật đặc sắc, tác phẩm đã trở thành một tiếng nói đồng cảm mạnh mẽ, thể hiện ước mơ về sự công bằng và khát vọng hạnh phúc của con người. Những giá trị nhân văn trong truyện thơ này vẫn còn nguyên sức sống, để lại nhiều bài học ý nghĩa cho người đọc hôm nay.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin