

I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Hàn Mặc Tử, “Đây thôn Vỹ Dạ”, SGK Ngữ văn 11, tập 1, NXBGD, 2006, tr.38-39)
Trả lời câu hỏi sau:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể thơ gì?
Câu 2. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì?
Câu 3. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
Câu 4. Nội dung chính của văn bản trên là gì?
Câu 5.Từ "kịp" trong hai dòng thơ: "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có chở trăng về kịp tối nay?" gợi lên điều gì rõ nét nhất đang ẩn chứa trong tâm tư tác giả?
Câu 6.Anh/ chị hiểu như thế nào về câu thơ“Gió theo lối gió mây đường mây”?
Câu 7.Nhận xét về tình cảm của nhà thơ với mảnh đất và con người thôn Vĩ qua khổ thơ đầu.
Câu 8.Ấn tượng của anh /chị về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
II. VIẾT (4,0 điểm)
Phân tích đánh giá tác phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể thơ thất ngôn bát cú cách tân.
Câu 2: Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Câu 3: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm kết hợp với miêu tả.
Câu 4: Nội dung chính của bài thơ là tâm trạng nhớ thương, khát khao về một tình yêu đẹp, gắn liền với hình ảnh thôn Vĩ Dạ – nơi thơ mộng, thanh bình nhưng xa vời, mờ ảo. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi buồn cô đơn, sự hoài nghi và khát vọng hòa hợp trong tình yêu của tác giả.
Câu 5: Từ "kịp" gợi lên nỗi lo lắng, khắc khoải về thời gian và sự chia lìa. Nó thể hiện sự mong chờ khẩn thiết, lo sợ rằng cơ hội gặp gỡ hoặc đoàn tụ có thể trôi qua quá nhanh, không kịp thực hiện được. Đây cũng là tâm trạng của một người ý thức rõ sự mong manh, ngắn ngủi của đời người và tình yêu.
Câu 6: Câu thơ diễn tả sự chia lìa, xa cách, không gặp gỡ giữa hai đối tượng – gió và mây. Đây là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi cô đơn, chia cắt và sự bất lực trong việc gắn kết tình yêu hay tình cảm của con người. Gió và mây vốn gần gũi nhưng nay lại chia xa, giống như tâm trạng của tác giả khi nghĩ về mối tình lỡ làng của mình.
Câu 7: Qua khổ thơ đầu, nhà thơ bày tỏ tình cảm trân trọng và yêu mến đối với cảnh sắc và con người thôn Vĩ. Thôn Vĩ hiện lên qua ánh nắng tươi sáng, khu vườn xanh mướt như ngọc và hình ảnh con người hiền hòa, duyên dáng. Tất cả gợi lên vẻ đẹp trong trẻo, thanh bình nhưng cũng rất nên thơ, khiến nhà thơ không khỏi nhớ thương và khao khát được quay trở lại.
Câu 8: Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" để lại ấn tượng sâu sắc với vẻ đẹp thơ mộng, hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và con người xứ Huế. Những hình ảnh như "nắng hàng cau", "vườn ai mướt quá", "sông trăng" hay "áo em trắng" không chỉ giàu chất thơ mà còn chất chứa tình yêu và nỗi niềm khắc khoải của tác giả. Bên cạnh vẻ đẹp đó, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng đầy u hoài, cô đơn và sự khát khao về tình yêu lẫn cuộc sống. Chính sự hòa quyện giữa cảm xúc và thiên nhiên đã khiến bài thơ trở thành một tác phẩm đặc sắc, đậm dấu ấn trong phong trào Thơ Mới.
II. VIẾT:
Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử là một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo và những xúc cảm sâu sắc, đầy mâu thuẫn của nhà thơ. Qua tác phẩm, Hàn Mặc Tử không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế thơ mộng, mà còn gửi gắm nỗi lòng yêu thương, khát khao hòa hợp với cuộc đời giữa hoàn cảnh bệnh tật và cô đơn.
Khổ thơ đầu là lời mời gọi đầy tha thiết, mở ra bức tranh thôn Vĩ thanh bình và tràn đầy sức sống:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền."
Bằng hình ảnh nắng mới, hàng cau thẳng tắp, khu vườn xanh mướt, Hàn Mặc Tử khắc họa vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo của cảnh sắc thôn Vĩ. Tất cả tạo nên không gian bình yên, tràn đầy sức sống. Đặc biệt, hình ảnh "lá trúc che ngang mặt chữ điền" vừa miêu tả vẻ đẹp con người thôn Vĩ vừa thể hiện sự hàm ý, tế nhị, mang nét đặc trưng văn hóa xứ Huế. Qua khổ thơ này, ta thấy rõ tình cảm trân trọng, yêu mến của nhà thơ đối với quê hương, với cuộc sống tươi đẹp mà ông từng khao khát.
Khổ thơ thứ hai chuyển sang một không gian mơ hồ, hư ảo, với những hình ảnh mang màu sắc tâm trạng:
"Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Hình ảnh "gió" và "mây" chia lìa, dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay khẽ gợi lên nỗi buồn xa cách, cô đơn. "Sông trăng" và "thuyền trăng" là những hình ảnh giàu chất lãng mạn, thể hiện khát khao giao cảm, hòa hợp của tác giả với đời sống và tình yêu. Tuy nhiên, từ "kịp" trong câu thơ cuối lại gợi sự mong manh, lo lắng, thể hiện tâm trạng bi quan của nhà thơ khi nhận ra rằng những khát khao ấy có thể không bao giờ thành hiện thực.
Khổ thơ cuối là tiếng nói day dứt, đầy ám ảnh của nhà thơ:
"Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?"
Hình ảnh "khách đường xa" gợi sự xa cách, hư ảo; "áo em trắng" tượng trưng cho tình yêu trong sáng nhưng lại mờ nhạt, không thể nắm bắt. "Sương khói" là hình ảnh biểu tượng cho sự mờ ảo, vô định của tình yêu và cuộc đời. Khổ thơ bộc lộ nỗi hoài nghi, bất an trong lòng nhà thơ: liệu tình cảm ấy có chân thành, có sâu đậm hay chỉ là ảo vọng?
Hàn Mặc Tử đã sử dụng thành công ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất nhạc, kết hợp giữa hiện thực và mộng ảo, giữa cụ thể và tượng trưng để tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho bài thơ. Nhịp điệu thơ uyển chuyển, nhẹ nhàng mà đầy cảm xúc, phản ánh rõ nét tâm trạng của tác giả. Các hình ảnh thiên nhiên và con người trong bài thơ vừa gần gũi, vừa mang tính biểu tượng, gợi lên những tầng ý nghĩa sâu sắc về tình yêu, cuộc sống và sự cô đơn.
"Đây thôn Vĩ Dạ" không chỉ là bức tranh thiên nhiên xứ Huế mà còn là tâm hồn, là nỗi niềm của một con người khao khát được yêu, được sống giữa dòng đời đầy bất trắc. Tác phẩm mang giá trị thẩm mỹ cao, để lại ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh và cảm xúc. Qua đó, Hàn Mặc Tử khẳng định tài năng độc đáo trong việc phản ánh đời sống tâm hồn con người, làm nên giá trị bất hủ cho bài thơ trong nền văn học Việt Nam.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin