

ĐOẠN VĂN 1: VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH
(Trích, Nguyễn Du)
… Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
(Theo Phong Châu, Văn tế cổ và kim, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1960, trang 168)
Em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích?
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
Đoạn thơ trên đã phê phán, tố cáo số phận nghiệt ngã của người dân thời loạn lạc. Thời loạn lạc, có người bị cuốn vào áo lính, bị buộc phải nhập ngũ mặc dù không muốn. Qua đây, có thể liên hệ với hình ảnh người chinh phu trong tác phẩm "Nỗi niềm chinh phụ" của Đặng Trần Côn khi chàng cũng phải ra trận, phải xa gia đình, xa vợ con. Cụm từ "gồng gánh" đã diễn tả sự vất vả của người dân. Họ không chỉ phải gánh cả việc nhà mà còn bị đẩy vào, bị buộc phải gánh lấy việc của nhà nước. Ngày thường, bữa cơm của họ vốn đã đạm bạc nay lại phải "vắt nước khe, vắt gian nan". Với hình ảnh ước lệ "nước khe cơm vắt" đã khắc hoàn cảnh nghèo đói, cơ cực của người dân trong hoàn cảnh loạn lạc. Đó chính là hậu quả từ chiến tranh. Trong bài thơ "Đói" của Bàng Bá Lân cũng từng nhấn mạnh hoàn cảnh của những người dân vô tội:
"Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi ngã gục không đứng lên vì ... đói!"
Dù phải chịu cảnh "dãi dầu nghìn dặm lầm than" nhưng không phải trong chốc lát mà họ phải chịu cả cuộc đời. Câu thơ tạo nên bi kịch không phải của cá nhân mà là tất cả người dân. Câu thơ tiếp theo đã mạnh mẽ phê phán sự tàn nhẫn của chiến tranh; tại thời điểm ấy, mạng người bị xem như cỏ rác, họ dễ dàng bị những kẻ cầm quyền mang ra để làm vật hy sinh nhưng họ chẳng thể làm gì khác ngoài cam chịu chấp nhận trong bất lực. Hình ảnh trận chiến như "ngọn lửa ma trơi", như những con quái vật thiêu đốt sinh mạng của những mảnh đời vô tội. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự đáng sợ của chiến tranh và sự cảm thông cho những con người bất hạnh. Nỗi bất hạnh của người dân lớn đến nỗi tiếng kêu oan của họ vang vọng giữa trời đêm càng gợi ra sự thương cảm vô cùng cho sự bất công họ phải chịu. Họ gồng gánh cả vận mệnh dân tộc nên đành phải bỏ lỡ hạnh phúc và thậm chí còn có kẻ phải "lỡ làng một kiếp". Câu thơ đã tố cáo tội trạng của chiến tranh đã gây ra đau khổ cho tất cả mọi người. Nếu như những câu thơ trước nói về nỗi khổ cực của những con người phải lên chiến trường thì câu thơ thứ chín của đoạn thơ đã nói lên nỗi khổ của những người phụ nữ trong thời loạn lạc. Những người phụ nữ ấy vì cơm áo nên dù tuổi còn rất trẻ đã bị đẩy vào nghề buôn bán "nguyệt, hoa" và đến khi già, họ lại phải chịu cảnh bơ vơ, "ngẩn ngơ", không nơi nương tựa. Việc sử dụng câu hỏi tu từ "Ai chồng con tá biết là cậy ai"? càng làm nổi bật sự thống khổ, số phận ê chề của những người phụ nữ trong thời chiến. Cả cuộc đời họ sống "đã chịu một đời phiền não" và ngay cả khi chết cũng chỉ được người đời cho chút "cháo lá đa". Qua đó phản ánh nỗi khốn khổ tột cùng nhưng lại chỉ có chút lòng thương của số phận con người thời chiến. "Đau đớn thay phận đàn bà" là lời than cũng như thể hiện thái độ thương cảm cho số phận hẩm hiu của người đàn bà. Và câu thơ cuối sử dụng biện pháp câu hỏi tu từ mang tính trăn trở, chất vất rằng tại sao mình lại sinh ra trong cái kiếp khổ cực như vậy. Tóm lại, bằng biện pháp nghệ thuật đặc sắc cùng giọng điệu oán thán, phê phán; đại thi hào Nguyễn Du đã tái hiện bi kịch xã hội thời loạn lạc, đồng thời thể hiện sự xót xa, phê phán sự tàn khốc của chiến tranh và bất công xã hội.
@LP
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Trong kho tàng văn học Việt Nam, Nguyễn Du là một viên ngọc sáng. Với tài năng xuất chúng, ông đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ, trong đó có "Truyện Kiều" và "Văn tế thập loại chúng sinh". Đoạn thơ trích từ bài "Văn tế thập loại chúng sinh" mà chúng ta đang phân tích là một minh chứng rõ nét cho lòng thương người sâu sắc của tác giả và bức tranh xã hội bất công thời bấy giờĐoạn thơ mở ra trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về cuộc sống khổ cực, vất vả của những người dân lao động. Hình ảnh "cõng gạo lặn lội" gợi lên cảnh những người nông dân lam lũ, ngày ngày đối mặt với nắng mưa, gió sương để kiếm cái ăn. Câu thơ "Bới nhà kẻ mặc vào vinh quang" lại cho thấy sự bất công trong xã hội, nơi những kẻ giàu sang hưởng thụ cuộc sống nhung lụa trong khi người dân nghèo khổ phải làm việc cật lực. Hình ảnh "Nước khe cơm vãi gian nan" đã khắc họa rõ nét sự thiếu thốn, cơ cực trong cuộc sống hàng ngày của họ.Chiến tranh đã gieo rắc nỗi đau và tang thương cho nhân dân. Câu thơ "Đại chiến trần ai mang mặt người như rác" đã phơi bày sự tàn khốc của chiến tranh, khi mà con người trở nên vô giá trị như những hạt cát. Hình ảnh "Buổi chiều đẫm máu ngùi ngùi" gợi lên cảnh tượng đau lòng của những người lính hy sinh, của những gia đình li tán.Qua những câu thơ, ta thấy rõ sự bất công của xã hội phong kiến. Người dân lao động không chỉ phải đối mặt với thiên tai, địch họa mà còn bị áp bức, bóc lột. Câu thơ "Lập loe danh lợi má trôi" đã lên án những kẻ tham vọng, tranh giành quyền lực, bất chấp thủ đoạn. Câu thơ "Tiếng oan vọng tới trời càng thương" đã thể hiện nỗi oan khuất, bất lực của những người dân khi quyền lợi của họ bị chà đạp.Nguyễn Du không chỉ miêu tả một cách chân thực cuộc sống khổ đau của nhân dân mà còn bộc lộ tấm lòng thương cảm sâu sắc. Qua từng câu chữ, ta cảm nhận được nỗi xót xa, đau đớn của tác giả trước những số phận bất hạnh. Hình ảnh "Liều tuổi xanh tan vào cát bụi" hay "Ngàn ngọn khi trở về là ai?" đã thể hiện sự trân trọng đối với những sinh mệnh đã ra đi.Tác giả sử dụng phép liệt kê để liệt kê những nỗi khổ của người dân, tạo cảm giác dồn dập, tăng cường tính chất bi kịch Việc lặp lại từ ngữ "cũng có kẻ" tạo nhịp điệu, nhấn mạnh sự phổ biến của nỗi khổ. Sự đối lập giữa giàu và nghèo, giữa hạnh phúc và đau khổ càng làm nổi bật lên sự bất công của xã hội. Đoạn thơ trích từ bài "Văn tế thập loại chúng sinh" là một bức tranh bi thảm về cuộc sống của người dân lao động trong xã hội phong kiến. Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, ta cảm nhận được nỗi đau, sự bất công và cả tấm lòng nhân đạo của tác giả. Bài thơ không chỉ có giá trị văn học mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thức tỉnh lòng người về những bất công trong xã hội.Qua đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh sinh động về cuộc sống khổ đau, bất hạnh của người dân lao động. Đồng thời, tác giả cũng bộc lộ tấm lòng nhân hậu, đồng cảm sâu sắc với những số phận bất hạnh. Bài thơ không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội bất công. Tác phẩm của Nguyễn Du vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay, nó nhắc nhở chúng ta về những giá trị nhân văn cao đẹp và khơi gợi lòng trắc ẩn trong mỗi con người.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin