

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của rét nàng bân
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của "Rét nàng Bân" "Rét nàng Bân" là một tác phẩm nổi bật trong văn học dân gian Việt Nam, không chỉ thể hiện sự sâu sắc trong nội dung mà còn rất độc đáo trong hình thức nghệ thuật. Tác phẩm này đã khắc họa một cách sinh động không khí lạnh giá của mùa đông ở miền bắc, mang đến cho người đọc những cảm xúc chân thật về thời tiết và tâm trạng con người.
1. Chủ đề của bài thơ Chủ đề chính của "Rét nàng Bân" xoay quanh nỗi khổ đau và tình yêu thương của con người trong cái rét lạnh của mùa đông. Hình ảnh nàng Bân - một biểu tượng cho cái lạnh, được nhân hóa, gợi lên sự cảm thông và xót xa cho những số phận chịu đựng cảnh giá rét. Tác phẩm không chỉ đơn thuần miêu tả thời tiết mà còn phản ánh tâm trạng, cảm xúc của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Qua đó, tác giả cũng khéo léo lồng ghép chủ đề của tình yêu thương, sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên, như một cách thể hiện lòng kiên nhẫn và sức sống của con người trong cuộc sống đầy thử thách.
2. Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật Tác phẩm "Rét nàng Bân" được viết theo thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Sự lựa chọn này không phải ngẫu nhiên mà là một cách thức tạo ra âm điệu nhẹ nhàng, du dương, khiến cho bài thơ trở nên gần gũi và dễ nhớ. Dưới đây là một số điểm nổi bật về hình thức nghệ thuật của tác phẩm: - **Nhân hóa thiên nhiên**: Hình ảnh nàng Bân không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà còn được nhân hóa thành một cô gái xinh đẹp, trong trẻo. Cách miêu tả này tạo ra sự liên kết giữa con người và thiên nhiên, làm cho không khí lạnh giá trở nên gần gũi hơn.
- Hình ảnh giàu sức biểu cảm: Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh nghệ thuật sinh động để thể hiện cái rét, từ "băng giá", "sương muối" cho đến "gió lạnh"
- tất cả đều rất cụ thể và chính xác, cho phép người đọc dễ dàng hình dung ra sự khắc nghiệt của thời tiết. Điều này cũng góp phần nhấn mạnh cảm xúc của nhân vật trong bối cảnh cụ thể.
- Âm điệu và nhịp điệu: Thể thơ lục bát tạo ra âm điệu nhịp nhàng, mang lại cảm giác êm ái và dịu dàng, như một bài hát ru êm ái giữa không gian lạnh lẽo. Âm điệu ấy không chỉ phản ánh hoàn cảnh bên ngoài mà còn đi vào tâm tư của nhân vật, khiến cho người đọc cảm nhận được nỗi lòng da diết.
3. Kết luận Tác phẩm "Rét nàng Bân" không chỉ là một bài thơ miêu tả thời tiết mà còn là một tác phẩm nghệ thuật sâu sắc, phản ánh tâm hồn dân tộc và những giá trị văn hóa quý báu của người Việt Nam. Qua việc nhân hóa thiên nhiên, sử dụng hình ảnh sinh động và âm điệu hài hòa, tác giả đã khéo léo truyền tải những thông điệp về tình người trong khó khăn và tình yêu thương trong cuộc sống. Bài thơ không chỉ để lại ấn tượng trong lòng người đọc mà còn làm phong phú thêm bức tranh văn học dân gian Việt Nam, trở thành một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại này.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
Nghệ thuật viết văn nói theo nhà văn Nga Sê-khốp đúng là "nghệ thuật của những chi tiết". Sự lựa chọn chi tiết "đắt giá" có khả năng "nói" được nhiều về tính cách nhân vật, thể hiện tài quan sát, tài kể chuyện của người viết. Trong Chiếc lược ngà người đọc có thể tìm thấy rất nhiều những chi tiết như thế thông qua tình huống truyện độc đáo.
Có hai tình tiết cơ bản tạo nên tình huống truyện trong đoạn trích này. Tình tiết thứ nhất kể người cha đi kháng chiến về thăm nhà sau gần bảy năm đi vắng, não nức được gặp cô con gái bé bỏng – đứa con duy nhất – chưa đầy một tuổi khi anh ra đi, nhưng đến giây phút thiêng liêng mà người cha hằng chờ đợi ấy, bé Thu lại không chịu nhận cha. Để rồi, cuối cùng nhận ra cha mình và biểu lộ tình cảm với cha thì người cha cũng đã hết ngày phép phải ra đi. Tình huống thứ hai là sau khi ông Sáu đi vào khu căn cứ, ông dành tất cả những tình cảm và tình yêu thương, nỗi nhớ bé Thu bằng việc làm chiếc lược ngà tặng con, nhưng khi chưa kịp tặng thì ông đã hi sinh.
Truyện viết về tình cảm cha con, nhưng là tình cảm cha con được thể hiện trong chiến tranh. Người cha là anh Sáu, "thoát li đi kháng chiến từ đầu năm 1946". Con gái anh là bé Thu "đứa con gái đầu lòng – và cũng là đứa con duy nhất của anh", lúc anh đi bé Thu "chưa đầy một tuổi". Biền biệt sáu, bảy năm trời hai cha con không được gặp nhau. Anh Sáu chỉ thấy con qua "tấm ảnh nhỏ". Vì thế, nay được về thăm nhà mấy hôm, "cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh". Và mong muốn tha thiết nhất của anh là được đứa con gọi mình một tiếng "ba". Tình huống truyện thật tự nhiên, hợp lí: còn gì tự nhiên hơn tình cảm cha con; chiến tranh, người cha đi đánh giặc phải xa con; vậy mà cũng thật bất ngờ và không kém phần gay cấn: khi người cha có dịp về thăm con thì đứa con nhất định không chịu gọi cha mặc dù anh cố gắng làm mọi cách. Khoảng thời gian về phép thăm nhà lại chỉ vẻn vẹn gói gọn có ba ngày ngắn ngủi, tạo thêm sự dồn nén cho câu chuyện.
Cái mong ước của người cha được nghe con mình gọi "ba" tưởng đơn giản nhưng mà thực ra lại vô cùng khó khăn. Ngay từ khi mới trông thấy con từ xa, anh Sáu đã không thể kìm được tình cảm của mình: "không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên vội vã bước những bước dài, rồi đứng lại kêu to: "Thu ! Con" anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh". Nhưng, những phản ứng của bé Thu, con anh, lại hoàn toàn trái ngược với những gì anh nghĩ: "nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng". Và khi thấy anh vẫn tiếp tục tiến về phía nó, thì "mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: "Má ! Má!". Những hành động cảm xúc của anh Sáu lẫn bé Thu đều rất đúng với tâm lí của mỗi người, ngẫm kĩ thì khó mà khác được. Đó chính là cái tài của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyên cớ của tình huống này là vết thẹo trên mặt người cha – dấu ấn của chiến tranh – đã khiến cho em bé thấy khác với tấm hình ba chụp chung với mẹ mà em vẫn coi. Thế nên, trong mấy ngày ba về phép, Thu đã không chịu gọi ba lấy một tiếng. Ngay cả khi mẹ nó cố tình đặt nó vào những tình huống bắt buộc phải gọi đến ba nó, thì Thu cũng chỉ gọi trống không: "Vô ăn cơm !", "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái", "Cơm sôi rồi, nhão bây giờ". Cả hai cha con thi gan với nhau, không ai chịu ai và những lần này phần thắng thuộc về bé Thu.
Và cao trào của tình huống này là chi tiết trước sự bướng bỉnh của bé Thu, anh Sáu đã không giữ được bình tĩnh "vung tay đánh vào mông nó và hét lên" khi nó hất cái trứng anh gắp cho nó. Bé Thu phản ứng lại bằng cách bỏ sang nhà bà ngoại. Và đến đây, nhà văn đã tạo ra chi tiết để "cởi nút" truyện. Bà ngoại đã giải thích cho bé Thu hiểu về vết thẹo mà ba em có, vi vậy, Thu đã chấp nhận người ba của mình. Thế nhưng, éo le thay, đây cũng là lúc mà anh Sáu phải quay lại căn cứ. Đoạn văn miêu tả cuộc chia tay của hai cha con đã bộc lộ tình yêu thương mãnh liệt của con đối với cha.
Khác với lúc về, lần này anh Sáu cố gắng kìm nén tình cảm của mình, "anh chỉ dám đứng nhìn nó". Bé Thu, sau một ngày ở bên nhà bà ngoại, lúc này đã biết được nhiều điều về ba nó. "Vẻ mặt của nó có gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi, sâu xa". Và cái giây phút bùng nổ tình cảm của bé Thu là giây phút mà Thu gọi ba, không phải là một tiếng gọi thầm mà là một tiếng kêu thét kéo dài.
Tình huống thứ nhất kết thúc, mở ra tình huống thứ hai. Nỗi nhớ con, sự dằn vặt vì đã đánh con khiến anh Sáu ngày đêm làm chiếc lược ngà cho con – đúng theo lời dặn của bé lúc chia tay cha "Ba về ! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!".
Một buổi chiều, anh Sáu hớt hải chạy từ rừng về như trẻ con bắt được quà, thì ra anh đã tìm được một khúc ngà voi. Sau đó ngày đêm anh lấy vỏ đạn cưa nhỏ khúc ngà voi thành từng miếng nhỏ, tỉ mẩn làm từng chiếc răng lược. Dường như, trong khi làm cây lược từ ngà voi ấy, người cha được đối diện cùng con, tâm sự, trò chuyện với con, vì thế, những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược kì công như "người thợ bạc". Người cha còn cẩn thận khắc lên lược dòng chữ để tặng con gái của mình: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Vậy mà, thật đáng buồn vì anh đã không chờ được đến lúc trao tận tay con gái mình chiếc lược mà anh đã kì công làm cùng với tất cả những yêu thương của cha dành cho con. Giây phút cuối cùng khi chuẩn bị lìa xa cuộc đời, không còn đủ sức để trăn trối điều gì, nhưng tình cha con là không thể chết được, anh đưa cho người bạn chiến đấu của mình cây lược. Đó chính là tâm nguyện cuối cùng của anh, tâm nguyện muốn gửi gắm cây lược để trao nó lại cho bé Thu.
Bằng các tình huống truyện khá bất ngờ, nhưng tự nhiên, hợp lí, Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện được chủ đề tác phẩm, ca ngợi tình cha con, cao cả thiêng liêng. Chính tình cảm này đã góp phần làm nên sức mạnh cho những người lính nơi chiến trường, và cả cho những người thân nơi hậu phương.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin
0
10
0
ủa b ơi sao lại thơ lục bát có lộn k ạ?