

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới: CHỢ TẾT CỦA ĐOÀN VĂN CỪ Vũ Quần Phương Năm tháng càng lùi xa bài Chợ Tết này càng được yêu mến, nó như tấm ảnh quý ghi lại chân thật những nét tiêu biểu trong sinh hoạt của quê ta. Mỗi lần đọc, lại như được sống cùng dĩ vãng. Ít có bài thơ nào mà cách miêu tả lại sinh động như bài thơ này. Sinh động, vì chộp được những chi tiết điển hình, vì cái nhìn hóm hỉnh và thấp thoáng cũng có những câu thơ có sức khái quát, có kí thác tâm trạng. [...] Kết cấu bài thơ rất giản dị, diễn biến theo từng thời gian. Mở đầu là sáng sớm, người ta đi chợ. Dải máy trắng đỏ dân trên đỉnh núi Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh Trên con đường viên trắng mép đồi xanh Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết. Mấy câu thơ bình thường giới thiệu thời gian, địa điểm. Chúng ta biết thêm đây là phiên chợ Tết vùng đồi, tụ họp dân các ấp. Cảnh những con đường tấp nập người tới chợ có cái nao nức thanh bình. Thơ Đoàn Văn Cừ nhiều màu sắc lắm, chỉ với ba câu thơ đầu đã thấy lần lượt trắng, đỏ, hồng, lam, xanh. Cả bài đếm được hai mươi ba màu. […] Trong đoạn đi chợ này có câu thơ tả nắng rất tài, tả được cái động của nặng, trong nắng lại có gió, màu vàng nắng trộn vào màu xanh lúa thành ra màu nắng tía: Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa. Nắng không nháy, nhưng gió thổi, đồng lúa xao động làm cho nắng đang rải trên đó thành nhấp nháy. Cách quan sát tinh vi này gợi nhớ câu thơ Nguyễn Du: “Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông”. Gió thổi đu đưa cành xanh làm màu hoa đỏ khi ẩn khi hiện như đốm lửa khi tắt khi bùng. […] Thú vị nhất và cũng tài hoa nhất là bức ảnh: Bà cụ lão bán hàng bên miếu cố Nước thời gian gợi tóc trắng phau phau. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy cái nhìn kì ảo ở câu thơ thứ hai. Vì tóc cho nên có động từ gội, và do đó thời gian được ví như nước. Hình ảnh sáng tạo, bất ngờ, nhưng rất hợp lí nên chấp thuận. Lí thú trong cách thể hiện và thâm thúy trong sự khái quát đời người. Đây là câu thơ hay nhất trong bài này. Tuy nhiên cũng nên lưu ý: hình ảnh cái miếu cổ làm nền cho mái tóc bạc, bà cụ đã góp phần không nhỏ vào tính chất kì ảo như cổ tích của ý thơ. […] Cảnh mua bán được đặc tả, quen thuộc mà cũng lạ lùng: Con gà trống mào thâm như cục tiết Một người mua cầm cẳng dốc lên xem. Quen thuộc vì ai chẳng từng trông thấy cảnh ấy, nhưng lạ lùng do cách tả: cầm cẳng dốc lên xem. Chợ vãn khi trời đã nhá nhem, người toả về các làng xa hẻo lánh. Những quán chợ vắng vẻ dần và trở nên hiu quạnh. Một nỗi buồn lan toả trên cảnh vật. Bài thơ kết thúc trong sự bâng khuâng đó: Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ. Bài thơ này có thể làm mẫu mực cho văn miêu tả, cho cách quan sát, chọn lựa chi tiết, cách tìm ra nét đặc sắc ở những cảnh thông thường. Đoàn Văn Cừ đã làm mới lạ, làm lạ hoá một khung cảnh quen thuộc từ bao đời, giữ lại mãi mãi cho mai sau cái phong vị dân dã xóm làng cùng những nét sinh hoạt đặc sắc của một thời. (In trong Thơ quê hương và những lời bình, Phương Ngân (Tuyển chọn) Trang 47 – 51, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007)
Câu 1. Văn bản trên thuộc loại văn bản nào?
Câu 2. Theo em, mục đích chính của người viết đoạn trích trên là gì?
Câu 3. Tác giả đã đưa ra lí lẽ, bằng chứng thể hiện sự miêu tả chân thực, tiêu biểu về ánh nắng của phiên chợ quê qua câu văn nào?
Câu 4. Tác giả đã nhận xét về bài Chợ tết của Đoàn Văn Cừ như thế nào?
Câu 5. Từ Hán Việt trong câu “Đoàn Văn Cừ đã làm mới lạ, làm lạ hoá một khung cảnh quen thuộc từ bao đời, giữ lại mãi mãi cho mai sau cái phong vị dân dã xóm làng cùng những nét sinh hoạt đặc sắc của một thời.” là:
Câu 6. Tác giả phân tích nghệ thuật dùng từ, cách miêu tả của nhà thơ ở câu nào?
Câu 7. Ý kiến khái quát của người viết về giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ “Chợ Tết” được nêu ở câu nào?
Câu 8. Phó từ trong câu “Chợ vãn khi trời đã nhá nhem, người toả về các làng xa hẻo lánh.” là:
Câu 9. Người viết thích câu thơ nào nhất trong bài “Chợ Tết” . Tác giả đã đưa ra lí lẽ và bằng chứng nào để khẳng định điều đó.
Câu 10. Chia sẻ với bạn bè về nét độc đáo của phiên chợ Tết ở quê hương em.
Bảng tin