

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Bài thơ "Chợ Đồng" của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm nổi bật trong kho tàng thơ ca dân tộc, với phong cách thơ giản dị, gần gũi nhưng cũng chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống, về xã hội và về thời gian. Qua bài thơ, nhà thơ thể hiện sự quan sát tinh tế về cảnh vật, con người và những tâm tư, nỗi niềm trong khoảnh khắc của một phiên chợ vào dịp cuối năm.
Bài thơ được mở đầu bằng những câu thơ miêu tả về không gian chợ Đồng vào tháng Chạp, khi mùa đông đã sắp kết thúc và không khí xuân đang tới gần. Câu thơ “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng” gợi lên hình ảnh một phiên chợ nhộn nhịp vào cuối năm, lúc mọi người đều bận rộn mua sắm chuẩn bị đón Tết. Tuy nhiên, qua câu hỏi “Năm nay chợ họp có đông không?”, Nguyễn Khuyến không chỉ đặt ra câu hỏi về sự tấp nập của chợ mà còn ngầm bày tỏ sự lo lắng về tình hình chung, có thể là sự giảm sút về đời sống vật chất hoặc sự thiếu vắng của niềm vui xuân.
Thời gian bài thơ diễn ra là vào cuối năm, khi trời đã chuyển lạnh, mưa bụi và không khí rét mướt của mùa đông đang bao trùm. Câu “Dở trời, mưa bụi còn hơi rét” vừa miêu tả thời tiết u ám, vừa phản ánh tâm trạng se sắt, lạnh lẽo trong lòng người dân khi chuẩn bị chia tay một năm cũ, đón chờ một năm mới với bao điều chưa biết.
Chợ Đồng không chỉ là một phiên chợ bình thường mà còn là nơi diễn ra những cảnh tượng quen thuộc của xã hội. Câu thơ “Nếm rượu, tường đền được mấy ông?” gợi lên hình ảnh những người đàn ông trong chợ, họ tụ tập uống rượu, bàn chuyện. Đây có thể là một phép phóng đại, thể hiện sự lười biếng, chểnh mảng của một bộ phận người dân trong xã hội thời ấy, khi mà đời sống vật chất chưa đầy đủ, tinh thần cũng bị bao trùm bởi sự mệt mỏi, lo toan. Câu thơ này còn thể hiện cái nhìn khôi hài và châm biếm của tác giả về những cảnh đời không mấy sáng sủa trong xã hội.
Hình ảnh “Hàng quán người về nghe xáo xác, / Nợ nần năm hết hỏi lung tung” tiếp tục khắc họa những vấn đề kinh tế và xã hội mà con người phải đối mặt vào cuối năm. Chợ không chỉ là nơi giao thương mà còn là nơi người ta lo lắng, vướng mắc với nợ nần, công việc chưa giải quyết xong. Sự “xáo xác” trong câu thơ không chỉ nói lên sự ồn ào, lộn xộn của cảnh chợ mà còn là sự hỗn loạn trong lòng người dân khi bước vào một năm mới với bao lo toan chưa dứt.
Chợ Đồng trong bài thơ cũng phản ánh sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Dù có sự xáo trộn, lo âu, nhưng không khí Tết vẫn hiện diện, với những tín hiệu vui vẻ, rộn ràng. Câu thơ “Dăm ba ngày nữa tin xuân tới” mang đến một sự hy vọng, cho thấy dù có khó khăn, nhưng mùa xuân vẫn đến. Cái không khí Tết đã bắt đầu len lỏi vào cuộc sống, qua những dấu hiệu nhỏ như việc người dân đã chuẩn bị pháo để đón xuân.
Câu thơ cuối “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” là một hình ảnh rất quen thuộc và mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của người Việt trong dịp Tết Nguyên đán. Tiếng pháo không chỉ báo hiệu sự kết thúc của một năm cũ mà còn là tiếng vọng của niềm vui, của sự khởi đầu, dù chỉ là một tiếng pháo nhỏ, nhưng đã đủ làm ấm lòng người dân sau những ngày tháng khó khăn.
Nguyễn Khuyến đã sử dụng những hình ảnh cụ thể của chợ Đồng – một không gian quen thuộc trong đời sống hàng ngày – để gửi gắm những suy nghĩ, quan niệm về cuộc sống. Dù miêu tả những cảnh vật có phần đơn giản, gần gũi, nhưng qua lối viết tài tình, nhà thơ đã làm nổi bật được chiều sâu tâm hồn và cái nhìn tinh tế về xã hội.
Bài thơ không chỉ dừng lại ở miêu tả hiện thực mà còn mang trong đó những giá trị biểu tượng. Chợ Đồng, với không khí nhộn nhịp và xáo động, có thể coi là một hình ảnh tượng trưng cho xã hội, cho những lo toan, băn khoăn của con người trong cuộc sống. Trong khi đó, hình ảnh của tiếng pháo, mặc dù chỉ là một chi tiết nhỏ, lại có thể hiểu như là biểu tượng cho hy vọng, sự khởi đầu mới, một cách nhìn lạc quan về tương lai dù cho hiện tại có thể còn khó khăn.
Bài thơ "Chợ Đồng" của Nguyễn Khuyến mang đậm màu sắc của những suy tư, những chiêm nghiệm về cuộc sống trong dịp Tết Nguyên đán. Với những hình ảnh rất gần gũi, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, bài thơ không chỉ khắc họa được bức tranh về không gian chợ Tết mà còn là lời nhắc nhở về những thăng trầm trong cuộc sống con người, về những niềm vui, nỗi buồn trong những ngày cuối năm. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã gửi gắm thông điệp về sự kiên cường, sự lạc quan và niềm tin vào tương lai, dù cho những khó khăn vẫn luôn hiện diện trong mỗi bước đi của cuộc đời.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Đáp án:
Giải thích các bước giảiNguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ dân tộc, là nhà thơ của làng quê Việt Nam. Trong suốt hơn 70 năm cuộc đời thì đã có hơn 40 năm ông sống gắn bó với làng quê, thế nên ông chẳng lạ gì những con trâu, những ruộng đồng, củ khai củ sắn, cả những con cuốc con cò, vốn không mấy ai để ý. Phải nói hiếm thấy có một nhà thơ cổ điển nào lại đưa nhiều hình ảnh dân dã vào thơ của mình để viết thành những thi phẩm tinh tế, có nhiều ý nghĩa sâu sắc đến thế.
Chợ Đồng cũng vậy, vốn chỉ là một phiên chợ Tết nhưng vào thơ của Nguyễn Khuyến nó đã chở theo một niềm xúc cảm sâu xa, một nỗi đau của vị thi sĩ có tấm lòng yêu quê hương đất nước tha thiết.
Nguyễn Khuyến sau khi rời chốn quan trường nhiễu nhương, lui về ở ẩn ở quê nhà, đó là làng Vị Hạ, xã Yên Đổ (nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam).
Làng ông có chợ Đồng, mỗi tháng họp chín phiên, dịp tết thì lại có ba phiên chợ tết, bình thường phiên chợ Tết đông vui và náo nhiệt lắm. Nhưng đến những năm đói kém, mất mùa hay có nhiều thiên tai thì chợ vắng hẳn, cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược, chợ Đồng đã thôi hẳn các phiên chợ, một giá trị văn hóa lâu đời cứ thế bị rơi vào quên lãng vì tiếng súng của trời Tây. Hai câu đầu của bài thơ là lời tác giả đang hỏi một người làng đi chợ phiên về, cũng là đang tự hỏi chính bản thân mình:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?”
Vì sao ông hỏi thế? Vả lại “Năm nay” lại là năm nào, có ý nghĩa gì chăng? Nhưng nhìn vào cái ngữ điệu dè dặt, giọng thơ hơi chùng, lại chậm rãi, ta nghe như có tiếng thở dài trong nỗi trầm ngâm thì có lẽ năm đó không phải là một năm chợ phiên đông vui cho được.
Liệu có phải vào năm mà Hà Nam lụt lớn, dân chúng tiêu điều, khổ sở, người ta còn chẳng buồn đoái hoài đến chợ Tết? Tựu chung lại hai câu thơ chất chứa rất nhiều nỗi buồn, đó là nỗi xót xa cho cuộc sống cơ cực, khổ sở của một nhà trí thức có đến hơn nửa đời người gắn bó với từng niềm vui nỗi buồn của người dân nơi làng quê khốn khổ, lầm than.
Rồi đến hai câu thơ thực, Nguyến Khuyến lại tiếp tục đặt một câu hỏi ngỏ, thể hiện cái tâm trạng hoang mang, rối bời giữa cảnh cô đơn, vắng lặng của những ngày giáp Tết mà không khí thật đìu hiu, buồn bã.
“Dở trời mưa bụi còn hơi rét,
Uống rượu tường đền được mấy ông?”
Xuân đương đến, nhưng mùa xuân này lại bị bao phủ bởi cái thời tiết ẩm ương, những hạt mưa bụi nhạt nhòa rơi lất phất, tưởng nhẹ hạt nhưng ai đứng giữa trời mưa rồi thì mới biết nó cũng chẳng tầm thường, cũng làm ướt áo người như ai. Thứ mưa bụi hơi đương còn vấn chút gió đông nên “hơi rét”, rét cả ngoài da, rét đến trong lòng người. Ngẫm lại nhìn cơn mưa bụi thế có ai còn thấy được sắc đỏ của pháo Tết, người người muốn núp trong nhà, đường được mấy ai, vắng vẻ lắm cho một cái Tết nơi làng nghèo.
Thế rồi vẫn có một cụ già, đang tuổi thất thập cổ lai hi, chống cái gậy con lọ mọ ra đường, tìm lại những giá trị văn hóa thật đẹp. Tìm về với những ông bạn già, năm ngoái năm kia còn cùng thử rượu, nhưng buồn làm sao khi chẳng “được mấy ông”.
Một nhà nho chân chính, vì bất đắc chí mà lui về ở ẩn, cốt lánh sự đời, tìm về niềm vui dân dã, bầu bạn với người cùng trang lứa, nhưng nay còn lại ai, có lẽ đã đi xa hết cả rồi. Lòng thi sĩ thấy thật cô đơn, lẻ loi, một người già cả lại chịu nhiều nỗi đau cả chung cả riêng như thế, quả thật xót xa quá.
“Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.”
Thế rồi nhà thơ già bỗng nghe được những âm thanh mới, những tưởng đấy là âm thanh hân hoan, vui mừng khi Tết đến. Nhưng không, âm thanh ấy nghe “xáo xác” lộn xộn lắm, đó là tiếng chủ nợ đòi con nợ, tiếng con nợ khất tiền, lời qua tiếng lại như thế càng làm tăng thêm cái vẻ khổ sở, nghèo túng của người dân nơi chợ Đồng.
Ai cũng có nỗi khổ cho riêng mình, kẻ không đòi được tiền thì cay cú, bực dọc, người mắc nợ thì xấu hổ, xót xa. Cứ vậy, ta thấy Tết ở đây chẳng còn là lúc để vui mừng mà là lúc để người ta càng nhận rõ ra cái nghèo khó, cùng cực của những người nông dân xưa, phải chạy vạy từng ngày lo miếng ăn, chứ nói gì đến Tết nhất. Buồn phiền thực!
“Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
Thế rồi khi phiên chợ đã vắng hẳn, nhà thơ từ trong nỗi buồn mênh mang, nhẩm tính chỉ còn mấy hôm nữa thì xuân lại tới rồi. Ông quẩn quanh trong một nỗi lo lắng cho cuộc sống cơ cực của nhân dân, khi năm hết tết đến, càng mong cho nhân dân được đón một cái Tết mới được đầm ấm hạnh phúc, chứ chẳng phải cảnh tiêu điều, xáo xác kia.
Tiếng pháo nhà ai bỗng nổ “đùng”, đánh thức người trong buồn bã, xót xa, xua đi cái nghèo đói, xua đi cái lạnh lẽo của mưa bụi rét mướt. Nhưng pháo nhà ai, thì không biết nữa, rồi liệu pháo ấy có thật kỳ diệu vậy không, Nguyễn Khuyến không xác định được. Chỉ biết rằng, tiếng pháo đơn độc trong không gian những ngày cuối năm lại càng làm tăng thêm cái nỗi buồn man mác, nỗi cô đơn trong lòng người thi sĩ.
Chợ Đồng của Nguyễn Khuyến là một bài thơ hay, với chất liệu làng quê dân dã, nhưng với một hồn thơ nồng đượm, Nguyễn Khuyến đã khai thác nó bằng nhiều xúc cảm thi vị. Một cảnh vật, một âm thanh vốn rất bình thường nhưng vào thơ ông cũng mang nhiều nỗi niềm hơn cả, đó là nỗi buồn lo cho cuộc sống của nhân dân, nỗi xót xa trước thực cảnh cơ hàn. Cuối cùng sâu xa hơn cả là tấm lòng yêu thương nhân dân, yêu thương đất nước tha thiết, mong cho toàn thể dân tộc ta có một cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn, đặc biệt là trong những ngày cận kề giáp Tết.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
"Văn học đối với tôi là một hiện tượng đẹp đẽ nhất trên thế giới". (Pautopxki). Kì thực làm sao, cảm xúc được ngân nga thành thơ, thành nhạc, khi tiếng lòng ta được soi sáng bởi những mảnh hồn ca. Văn học sinh ra cho đời thêm hoa thơm trái ngọt, cho sự sống vút cao trên mỗi trang văn, trang thơ. Bởi thế bài thơ "Chợ đồng" của Nguyễn Khuyến" đã tỏa vang vào lòng người đọc từ chính những vẻ đẹp tự nhiên đằm thắm và thiết tha như thế. Bài thơ "Chợ đồng" mang đếm hình ảnh sinh hoạt bình dị của người nông thôn trong những ngày đông giá rét, gửi gắm nỗi niềm đối với cuộc sống và những dấu hiệu xuân mới.
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, nổi bật với phong cách trữ tình, dân dã, và sâu sắc. Ông quê ở làng Vị Hạ, tỉnh Hà Nam, từng đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình nên được mệnh danh là “Tam Nguyên Yên Đổ.” Thơ của Nguyễn Khuyến thường gắn liền với hình ảnh nông thôn Việt Nam bình dị, với những xúc cảm chân thật và gần gũi. Bài thơ “Chợ Đồng” nằm trong mạch thơ viết về cuộc sống đời thường, tái hiện một phiên chợ quê ngày cuối năm. Qua bài thơ, tác giả không chỉ phác họa sinh động bức tranh sinh hoạt làng quê mà còn gửi gắm những cảm xúc sâu lắng về thời gian, cuộc sống, và tình người.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ vẽ nên không khí của chợ Đồng vào ngày tháng Chạp:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?”
Không chỉ giới thiệu thời gian và không gian của phiên chợ quê mà còn gợi lên những cảm xúc đầy hoài niệm, gần gũi. Ngày 24 tháng Chạp, thời điểm cuối năm, là lúc mọi người trong làng quê náo nức chuẩn bị Tết, và phiên chợ Đồng trở thành nơi tụ hội đông vui, tấp nập. Cụm từ “chợ Đồng” gắn liền với nét văn hóa sinh hoạt nông thôn Bắc Bộ, không chỉ là nơi buôn bán mà còn là nơi gặp gỡ, trò chuyện, và giao lưu của người dân. Câu hỏi tu từ “Năm nay chợ họp có đông không?” mang âm hưởng bâng khuâng, như một lời thăm hỏi, vừa tò mò, vừa chất chứa nỗi niềm hoài cổ. Dường như, tác giả không chỉ hỏi về sự đông đúc của chợ mà còn bộc lộ sự quan tâm chân tình với những đổi thay của đời sống quê hương. Hai câu thơ mở đầu mang tính chất tự nhiên, mộc mạc, nhưng lại rất giàu cảm xúc, giúp khơi gợi một bức tranh sinh hoạt làng quê đậm nét trong lòng người đọc.
Hai câu tiếp theo khắc họa khung cảnh chợ trong tiết trời đông cuối năm:
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?
"Dở trời" diễn tả một trời mưa bụi lất phất, mang lại cảm giác u ám, ảm đạm của những ngày giáp Tết, khi không khí không quá lạnh nhưng vẫn đủ khiến con người cảm thấy se sắt, dễ chịu, và cũng dễ làm cho lòng người trở nên trầm lắng. “Mưa bụi còn hơi rét” tạo ra hình ảnh thời tiết khó chịu, không đủ lạnh để thành giá rét nhưng cũng không đủ ấm để dễ chịu, thể hiện sự chuyển mùa đặc trưng của miền Bắc vào cuối năm. Điều này càng làm nổi bật không khí tĩnh mịch, u ám trong phiên chợ quê, nơi mà con người tìm kiếm những phút giây thư giãn giữa cái lạnh của đất trời. Câu thứ hai, “Nếm rượu, tường đền được mấy ông?” là một hình ảnh đậm chất dân dã, dễ thấy trong những cuộc gặp gỡ thường ngày của người dân nông thôn. Từ "nếm rượu" cho thấy các cụ ông, hay những người đàn ông trong làng, thường tụ tập ở những nơi như tường đền để uống rượu, trò chuyện, bình luận về các sự kiện trong năm. “Tường đền” là nơi quen thuộc, vừa mang ý nghĩa là một địa điểm cộng đồng, vừa phản ánh đặc trưng của đời sống dân dã. Câu hỏi "được mấy ông?" không chỉ thể hiện sự quan sát, mà còn chứa đựng một sự hài hước nhẹ nhàng, phê phán sự lười biếng, vô lo của một số người trong làng vào những dịp cuối năm. Tác giả như muốn hỏi xem, trong khi mọi người vẫn còn đang say sưa với rượu và câu chuyện, thì bao nhiêu công việc cần làm đã được hoàn thành. Cả hai câu thơ vừa miêu tả một không gian vừa thực, vừa ẩn chứa nhiều tầng lớp ý nghĩa, giúp người đọc cảm nhận được nhịp sống trôi qua trong những ngày cuối năm của người dân nông thôn. Thời tiết lạnh, mưa bụi, và những buổi nhâm nhi rượu đều tạo nên không khí ngập tràn sự ấm áp, quen thuộc, pha lẫn sự lười biếng, buông thả trong những ngày giáp Tết.
Nguyễn Khuyến miêu tả cảnh chợ quê vào cuối năm, với không khí nhộn nhịp, nhưng cũng đầy rộn ràng và hỗn loạn:
“Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.”
"Hàng quán người về nghe xáo xác" phản ánh không gian đông đúc của các hàng quán khi người dân mua sắm chuẩn bị cho Tết. Từ "xáo xác" gợi lên hình ảnh âm thanh hỗn tạp, ồn ào của những người mua bán, cùng với những câu chuyện phiếm, trao đổi không ngừng nghỉ. Chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nơi mọi người tụ tập, gặp gỡ, thăm hỏi và thậm chí là phàn nàn, tính toán về công việc trong năm qua. Câu tiếp theo "Nợ nần năm hết hỏi lung tung" gợi lên sự bức xúc, lo lắng trong lòng những người dân khi năm cũ sắp kết thúc, họ bắt đầu tính toán lại những món nợ của mình. Câu thơ này không chỉ phản ánh sự nhộn nhịp của phiên chợ cuối năm, mà còn chỉ ra nỗi lo toan của những người dân nghèo về chuyện nợ nần chưa thanh toán xong. Từ "hỏi lung tung" thể hiện sự lộn xộn trong các cuộc trò chuyện, khi những câu hỏi về nợ nần, công việc, chuyện gia đình cứ liên tiếp được đặt ra mà không thật sự có được câu trả lời rõ ràng. Đây là một bức tranh chân thực về cuộc sống của người dân nghèo vào những ngày cuối năm, khi mà ngoài niềm vui đón Tết còn là nỗi lo về những trách nhiệm chưa giải quyết xong, và cả sự bận rộn trong công việc chưa thể kết thúc.
Cuối cùng, tác giả khắc họa không khí rộn ràng, phấn khởi của những ngày cận Tết:
“Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
“Dăm ba ngày nữa” như một lời báo hiệu thời gian đã trôi qua gần hết, chỉ còn vài ngày nữa là năm mới sẽ đến, khiến lòng người càng thêm háo hức, mong chờ. Câu “tin xuân tới” mang lại cảm giác của sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, đồng thời khơi dậy niềm vui, hy vọng về một khởi đầu mới. Hình ảnh “pháo trúc” nổ vang trời là biểu tượng quen thuộc của Tết, gắn liền với sự vui mừng, xua đuổi tà ma và cầu mong cho một năm mới an lành, thịnh vượng. Tiếng pháo “một tiếng đùng” không chỉ là âm thanh của lễ hội mà còn là biểu tượng của sự phấn khởi, niềm vui chung của mọi người trong những ngày cuối năm. Cả hai câu thơ tạo nên một không khí xuân rộn ràng, tràn đầy hy vọng và vui tươi, làm nổi bật sự mong đợi của nhân dân về một mùa xuân mới.
Bài thơ "Chợ Đồng" của Nguyễn Khuyến có giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc, phản ánh rõ nét cuộc sống làng quê Việt Nam vào những ngày cuối năm. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng đầy hình ảnh sinh động và gần gũi, từ đó tạo nên một không gian sống động của chợ quê với những âm thanh, màu sắc, cảm giác đặc trưng. Các hình ảnh như "mưa bụi", "xáo xác", "pháo trúc" không chỉ miêu tả thực tế mà còn gợi lên những cảm xúc, tâm trạng trong lòng người dân. Về nội dung, bài thơ khắc họa không chỉ sinh hoạt đời thường mà còn thể hiện những nỗi lo, sự tất bật, niềm hy vọng về một năm mới. Bằng cách tập trung vào những chi tiết cụ thể của cuộc sống làng quê, bài thơ vừa gần gũi, vừa chứa đựng sự suy tư về thời gian, về những niềm vui, nỗi lo trong cuộc sống của con người.
Nguyễn Khuyến gửi gắm những suy ngẫm về thời gian, những hy vọng và nỗi lo trong mỗi con người khi năm cũ qua đi, năm mới sắp đến. Bài thơ còn có thể được hiểu như một lời nhắc nhở về sự kết nối giữa con người với quê hương, và trong cuộc sống xô bồ, những giá trị truyền thống vẫn luôn hiện hữu, dù thời gian có trôi qua. Từ những chi tiết nhỏ nhặt nhưng đậm đà bản sắc, Nguyễn Khuyến đã làm sống lại không khí Tết xưa, khiến người đọc không khỏi nhớ về những kỷ niệm, những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống nông thôn, dù thời gian có đổi thay.
Bảng tin