

Viết bài văn thuyết minh về 1 hiện tượng thủy triều
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Đáp án:
Thủy triều là hiện tượng phổ biến xảy ra ở các vùng nước lớn như biển, sông… Hiện tượng này có tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người.
Thủy triều được hiểu theo cách đơn giản nhất, chính là hiện tượng mực nước biển, sông lên và xuống trong một khoảng thời gian nhất định (hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng), phụ thuộc và sự biến chuyển của thiên văn. Sự biến chuyển ấy chính là sự thay đổi lực hấp dẫn của Mặt Trăng (đóng vai trò chủ yếu) và của các thiên thể khác như Mặt Trời khi tác động lên một điểm bất kì trên Trái Đất. Khi Trái Đất tự quay quanh trục của chính mình đồng thời quay xung quanh Mặt Trời, thì lực hấp dẫn tác động lên một điểm trên Trái Đất cũng theo đó bị thay đổi. Do đó, mực nước sẽ có lúc dâng cao lên và có lúc rút thấp xuống tùy vào lực hút. Từ đó tạo ra thủy triều mà chúng ta vẫn thường thấy.
Khi diễn ra, hiện tượng thủy triều sẽ luôn trải qua bốn giai đoạn với thời gian khác nhau tùy vào lực hút. Đầu tiên là triều dâng, nghĩa là mực nước biển dâng lên cao kéo dài trong vài giờ. Khi mực nước dâng lên đến mức cao nhất có thể (tức lực hút đã đạt đỉnh) thì sẽ được gọi là triều cao. Sau khi mực nước duy trì ở triều cao trong một khoảng thời gian ngắn, sẽ bắt đầu hạ thấp dần do lực hút bị giảm đi thì sẽ được gọi là triều xuống. Và cuối cùng, khi mực nước trở về điểm thấp nhất của nó, thì sẽ được gọi là triều thấp. Tùy vào lượng nước, diện tích khu vực đó và lực hút mà thời gian diễn ra của mỗi giai đoạn sẽ khác nhau. Thông thường, ở cùng một địa điểm sẽ có chu kì diễn ra các giai đoạn của thủy triều lặp lại cố định, ít biến động.
Thủy triều diễn ra gây không ít bất tiện cho cuộc sống của người dân, khi mực nước dâng cao nhấn chìm một phần diện tích vốn để sinh hoạt của họ. Tuy nhiên, sau khi mực nước rút đi, sẽ để lại một lượng phong phú thủy hải sản trên bờ cát. Do đó, các hoạt động bắt cua, ốc, ngao, sò, hến, bạch tuộc, cá nhỏ… dọc bờ sông, bờ biển sau khi thủy triều rút đã trở thành hoạt động quen thuộc của người dân nơi đây.
Giải thích các bước giải:
Thủy triều đỏ là cách gọi thông thường, nhưng các nhà khoa học thường gọi là hiện tượng nở hoa của tảo ở biển.
Hiện tượng tảo nở hoa (có tài liệu còn gọi là hiện tượng nở hoa của nước) gây ra bởi các loài vi tảo và vi khuẩn lam sống trong nước biển hoặc nước ngọt khi chúng phát triển rất nhanh, bùng phát quá mức về mật độ tế bào hoặc sinh khối. Hiện tượng tảo nở hoa xảy ra cả ở biển và nước ngọt, khi xảy ra ở biển thì gọi là thủy triều đỏ. Tảo nở hoa có thể sống ở bề mặt nước hoặc ở tầng đáy.
Đặc biệt, những thực vật phù du và sinh vật nguyên sinh đơn bào, các sinh vật như thảo mộc có thể hình thành những đám dày đặc, các vết có thể nhìn thấy ở gần bề mặt nước. Một số loài thực vật phù du, tảo chứa sắc tố quang hợp khác nhau về màu sắc từ xanh sang nâu đỏ.
Khi mật độ tảo tập trung cao, nước sẽ đổi màu hay xỉn lại, từ tím đến gần như màu hồng, thường là màu đỏ hoặc màu xanh lá cây. Không phải tất cả việc nở rộ tảo đều dày đặc đủ để làm cho nước đổi màu, và không phải tất cả những nước đổi màu có liên quan đến nở rộ tảo đều đỏ.
Hiện tượng tảo nở hoa có thể do các loài tảo có độc tố và các loài không có độc tố. Khi các tảo độc nở hoa, chúng tiết ra các độc tố thuộc về 3 nhóm: nhóm độc tố gan, nhóm độc tố thần kinh, nhóm độc tố gây tiêu chảy. Chúng không chỉ gây độc cho các sinh vật sống trong nước như cá, giáp xác, động vật thân mềm, động vật có vú ở biển (như cá voi, sư tử biển)… mà còn gây độc cho cả một số loài chim, cho con người khi ăn phải thủy sản bị nhiễm độc, khi tiếp xúc hoặc uống phải nguồn nước bị nhiễm độc.
Các độc tố có thể ảnh hưởng tới không khí, gây khó thở. Ngoài việc tạo ra các độc tố, chúng còn làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước do chuyển màu, có mùi tanh khó chịu, hàm lượng oxy giảm đột ngột do phân hủy một lượng sinh khối lớn.Tảo không độc khi nở hoa cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước khi lượng sinh khối lớn của chúng bị chết và phân hủy.
Tóm lại, hiện tượng nở hoa của tảo, đặc biệt là tảo độc gây tác hại tới hệ sinh thái biển, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với con người, gây thiệt hại cho ngành kinh tế khai thác, nuôi trồng thủy sản.
Thực tế, không phải đợt bùng phát tảo biển nở hoa nào cũng có hại. Chúng có thể có lợi vì là thức ăn cho sinh vật trong đại dương.
Theo một cuốn sách của ông Kin-Chung Ho, Đại học Mở Hong Kong, sự xuất hiện của thủy triều đỏ ở một số địa điểm dường như là hoàn toàn tự nhiên, do sự chuyển động của các dòng hải lưu nhất định. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng có thể do phú dưỡng hóa nguồn nước - thải quá nhiều vào nước chất dinh dưỡng như nitrat hay phốt phát từ hoạt động nông nghiệp hay hiện tượng nước trồi - dòng nước lạnh đặc và nhiều dinh dưỡng di chuyển từ phía sâu lên bề mặt đại dương, thay thế dòng nước nóng hơn.
Thủy triều đỏ đã xảy ra ở nhiều nước: Hoa Kỳ, Brasil, Úc, Philippines, Trung Quốc, Anh, Malaysia…và gây ra nhiều thiệt hại.
Năm 1968, tại Anh có 78 trường hợp người bị ngộ độc do ăn sò xanh nhiễm độc tố của tảo Alexandrium tamarense. Tính đến năm 1995, tại Philippines đã có 1422 người bị ngộ độc do ăn cá nhiễm độc tảo Pyrodinium bahamense var compressum và 82 người trong số này đã tử vong. Năm 1998, một loài tảo mới xuất hiện ở vùng biển Hong Kong đã gây ra thuỷ triều đỏ, ảnh hưởng đến 20 trong tổng số 26 khu vực nuôi cá, hủy hoại hơn 80 % trữ lượng cá thường xuyên. Năm 2013, hai người Malaysia đã chết do ăn cá nhiễm tảo độc từ thủy triều đỏ ở bờ biển đảo Borneo.
Tất cả các bang ven biển của Hoa Kỳ đều bị thủy triều đỏ và chịu nhiều thiệt hại do thủy triều đỏ gây ra, đặc biệt là ở New England, Florida, khu vực gần Vịnh Mexico… Thiệt hại do thủy triều đỏ gây ra đối với nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch lên tới hàng chục triệu đô la.
Tại Việt Nam, hiện tượng thủy triều đỏ cũng đã xảy ra ở nhiều nơi. Tuy nhiên, khu vực biển Bình Thuận là nơi có tần suất nở hoa của vi tảo cao nhất, hiện tượng này. Tháng 6 - 7/2014, thủy triều đỏ tạo nên các trận bọt biển màu đỏ vàng ở bãi biển Mũi Né – Hòn Rơm (Phan Thiết, Bình Thuận). Xác cá và nhiều động vật, rong tảo biển dạt vào và phân hủy, bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường. Cư dân ở đây cho biết hiện tượng thủy triều đỏ thường xuất hiện ở vùng biển này vào tháng 6 hàng năm.
Đồng thời, nghề sản xuất giống thủy sản và nuôi lồng các loài tôm hùm, cá mú cũng thải ra môi trường một lượng dinh dưỡng đáng kể cũng là một điều kiện kích thích sự nở hoa. Hiện tượng nở hoa nước thường xảy ra trong các hồ nước ngọt và các ao nuôi thủy sản. Hiện tượng tảo nước ngọt nở hoa cũng đã gặp ở Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), hồ Xuân Hương (thành phố Đà Lạt) và gần đây, trong tháng 4/2016 tại sông Ba, đoạn chảy qua xã Chư Ngọc huyện Krông Pa, Gia Lai.
Theo các nhà khoa học, hiện tượng thủy triều đỏ và nở hoa nước là một trong những vấn đề cấp bách cần được quan tâm nghiên cứu cụ thể, lâu dài như: Về quy luật phát sinh và lan truyền của hiện tượng thủy triều đỏ và nở hoa nước; về sinh thái phát triển và sản sinh độc tố của một số loài vi tảo kể cả các loài đang hình thành có khả năng nở hoa. Trên cơ sở đó, có sự cảnh báo để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời đánh giá đầy đủ về những thiệt hại mà nó gây ra.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

Thiên nhiên luôn đầy sự bí ẩn và kì diệu. Hiện tượng thuỷ triều cũng là một trong số những hiện tượng kì diệu của tự nhiên. Mực nước biển lên cao, rồi lại xuống thấp theo những chu kỳ đều đặn. Hiện tượng này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường biển mà còn có tác động mạnh mẽ đến con người và hoạt động kinh tế, xã hội của chúng ta. Thủy triều là một câu chuyện hấp dẫn về sức mạnh của tự nhiên và tác động của nó lên cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Hiện tượng thủy triều là sự biến đổi định kỳ của mực nước biển, từ việc tăng cao đến một mức đỉnh, sau đó giảm xuống một mức thấp, theo một chu kỳ nhất định. Hiện tượng này do sự tương tác của lực hấp dẫn giữa Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất. Mặt Trăng, đặc biệt, có tác động lớn đến mực nước biển, vì sự hấp dẫn của nó kéo nước biển đi theo một quỹ đạo xung quanh Trái Đất. Kết quả là, hàng ngày chúng ta chứng kiến sự thay đổi của mực nước biển, từ thủy triều cao đến thủy triều thấp và ngược lại. (Sản phẩm thuộc bản quyền nhóm Hà An)
Hiện tượng thủy triều biểu hiện qua sự biến đổi đáng kể của mực nước biển theo chu kỳ nhất định. Thủy triều cao (thủy triều lên) là giai đoạn mực nước biển tăng lên đạt đỉnh cao nhất trong chu kỳ thủy triều. Khi thủy triều cao, mực nước biển lấp đầy các bãi biển, cảng, kênh và lòng chảo trên bờ biển. Và ngược lại, thủy triều thấp (thủy triều xuống) là giai đoạn mực nước biển giảm xuống đạt mức thấp nhất trong chu kỳ thủy triều. Khi thủy triều thấp, bãi biển, kênh và lòng chảo trên bờ biển có thể trở nên khô cạn hoặc nổi lên nhờ sự giảm mực nước. Trên nhiều bờ biển, có hai thủy triều cao và hai thủy triều thấp trong một ngày. Mỗi chu kỳ thủy triều kéo dài khoảng 12,5 giờ, do tương tác giữa Mặt Trăng và Trái Đất. Thời gian và độ cao của thủy triều có thể được dự đoán và biểu diễn theo các chu kỳ đều đặn. Chu kỳ thủy triều thường là khoảng 24 giờ 50 phút, tương ứng với một ngày và một ít hơn một giờ.
Nguyên nhân chính của hiện tượng thủy triều là sự tương tác giữa lực hấp dẫn của Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất. Mặt Trăng có khối lượng và lực hấp dẫn đối với Trái Đất. Mặt Trăng quay quanh Trái Đất trên một quỹ đạo elip, tạo ra một lực hấp dẫn ngược chiều với trọng lực trên Trái Đất. Lực hấp dẫn này kéo nước biển về phía Mặt Trăng, tạo thành một "gò" nước. Mặt Trời cũng có lực hấp dẫn đối với Trái Đất, mặc dù yếu hơn so với Mặt Trăng. Trong khi Mặt Trăng góp phần tạo ra thủy triều chính, Mặt Trời tạo ra một tác động phụ trên mực nước biển. Khi Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất thẳng hàng (trạng thái trăng tròn đầy), hiệu ứng kết hợp lại và tạo ra thủy triều cực đại. Không những vậy, sự quay của Trái Đất cũng ảnh hưởng đến hiện tượng thủy triều. Bề mặt Trái Đất không đồng nhất và không đồng đều phân bố với các đại dương, lục địa và địa hình khác nhau. Do đó, các yếu tố này góp phần tạo ra những biến đổi thủy triều ở địa phương.
Các nhà địa chất học và biển nghiên cứu về tác động của thủy triều đến địa hình và môi trường biển. Họ quan tâm đến cách mực nước biển thay đổi và ảnh hưởng đến cấu trúc và hình thành đá, cát và các hệ sinh thái ven biển. Các nhà khoa học này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hiểu và bảo vệ môi trường biển. Các chuyên gia đã giải thích hiện tượng thủy triều dựa trên sự tương tác giữa lực hấp dẫn của Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất. Tuy nhiên, cần bổ sung rằng không chỉ có tác động của các hành tinh này, mà còn có một số yếu tố khác cũng góp phần vào hiện tượng thủy triều như địa hình biển, mật độ nước và các công trình thuỷ lợi. Ngoài ra, các hoạt động như khai thác vàng, dầu mỏ, khai thác khoáng sản dưới biển hay tàu biển di chuyển trên biển cũng có thể góp phần tạo ra tác động nhất định lên môi trường biển và thủy triều.
Hiện tượng thuỷ triều có tác động tích cực và tiêu cực tới cuộc sống. Thủy triều có vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế ven biển như ngư nghiệp, du lịch và giao thông biển. Các hoạt động này phụ thuộc vào mực nước biển và thủy triều để xác định thời gian cập bến, khởi hành và hoạt động trên biển. Điều này có thể tạo ra cơ hội kinh tế và thuận lợi cho nhiều ngành công nghiệp. Hơn nữa, thủy triều ảnh hưởng đến việc đi lại, các hoạt động giải trí và sinh hoạt hàng ngày của con người trên bờ biển. Với thủy triều cao, bãi biển có thể thu hẹp hoặc mất đi, và các hoạt động như bơi, lướt sóng và chèo thuyền có thể bị ảnh hưởng. Ngược lại, thủy triều thấp có thể tạo điều kiện cho việc khám phá bãi biển và các hoạt động trên cạn. Tuy nhiên, thủy triều cũng có thể gây ra hiện tượng lũ lụt ven biển trong các vùng có mực nước biển cao. Thủy triều cũng ảnh hưởng đến môi trường sống và các hệ sinh thái nội địa gần các vùng ven biển, chẳng hạn như vùng cửa sông. Mực nước biển cao hay lũ lụt ven biển có thể tác động đến các khu định cư, nơi sinh sống và nông nghiệp ven biển, gây ra nguy cơ thiệt hại và sự thay đổi trong cộng đồng.
Hiện tượng thủy triều không chỉ ảnh hưởng đến môi trường biển và hệ sinh thái, mà còn có tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động kinh tế của con người. Do đó, việc hiểu và nắm vững hiện tượng thủy triều là cực kỳ quan trọng. Điều này không chỉ giúp chúng ta ứng phó với những tác động tiêu cực mà còn tạo ra cơ hội và lợi ích trong việc phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, theo dõi về hiện tượng thủy triều. Việc xây dựng các hệ thống dự báo, phòng ngừa lũ lụt và quản lý tài nguyên biển sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên biển của chúng ta
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin