

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
“Phũ phàng chi bấy hóa công
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Trên chặng đường phát triển của văn hoc trung đại Việt Nam, ta bắt gặp không ít tác phẩm viết về nỗi niềm của người phụ nữ. Từ nỗi nhớ da diết, khắc khoải của người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” tới niềm cô đơn, cay đắng của người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc”. Đến với thể loại truyền kì, tác phẩm tiêu biểu nhất viết về số phận người phụ nữ chính là “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Nguyễn Dữ sinh ra vào cuối thế kỉ XV và sáng tác chủ yếu ở đầu thế kỉ XVI. Có thời gian dài sống ở kinh đô nên ông được chứng kiến nhiều thăng trầm của xã hội, con người. Ông đã chọn truyện truyền kì – một thể loại văn xuôi kết hợp giữa hiện thực và kì ảo để phản ánh hiện thực đời sống, gửi gắm những tư tưởng nhân sinh của mình. Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”, thuộc thiên thứ 16 của tập truyện “Truyền kì mạn lục”. Nhân vật chính là Vũ Nương được Nguyễn Dữ khắc họa đầy đủ cả về vẻ đẹp và số phận, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Nguyễn Dữ đã đứng trên quan điểm nhân đạo để ngợi ca, đề cao những vẻ đẹp ở người phụ nữ, nhất là những người phụ nữ bình dân. Nhân vật Vũ Nương mang trong mình cả vẻ đẹp ngoại hình và phẩm chất vô cùng đáng quý. Nguyễn Dữ không dành quá nhiều câu chữ để tả chân dung Vũ Nương nhưng chỉ qua chi tiết nàng có “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” và Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”, người đọc vẫn có thể thấy rõ Vũ Nương là một người phụ nữ rất xinh đẹp. Ở nàng toát lên vẻ đằm thắm, hiền hậu của một người phụ nữ nơi thôn dã.
Đi liền với một dung mạo đẹp, Vũ Nương còn có những phẩm chất vô cùng đáng quý. Nhà văn đã đặt Vũ Nương vào những tình huống cụ thể để làm nổi bật tính cách, tâm hồn của nhân vật. Trong xã hội phong kiến, “Công – dung – ngôn – hạnh” được coi là thước đo chuẩn mực cho cốt cách của người phụ nữ. Vũ Nương mang trong mình đầy đủ những yếu tố ấy. Trong mối quan hệ vợ chồng, nàng là người vợ khéo léo, nhu mì, yêu thương chồng và thủy chung hết mực. Biết Trương Sinh có tính hay ghen, nàng luôn “giữ gìn khuôn phép” nên gia đình được yên ấm, chưa từng phải thất hòa. Hành động của Vũ Nương khi tiễn chồng đi lính đã cho thấy niềm khao khát hạnh phúc, tình yêu chân thành, tấm lòng nhân hậu mà Vũ Nương dành cho chồng. Người xưa có câu: “Một người làm quan, trăm họ được nhờ” nên ở xã hội xưa, có rất nhiều người coi việc tham gia chiến tranh là một cơ hội để đổi đời, thăng quan tiến chức. Ta đã từng bắt gặp trong “Chinh phụ ngâm” hình ảnh người vợ tiễn chồng ra trận với hi vọng đem về phú quý:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
Nhưng ở đây, Vũ Nương không cầu mong vinh hiển. Nàng đã rót chén rượu đầy, dặn dò chồng bằng những lời tha thiết, cảm thông với nỗi vất vả của chồng, mong chàng trở về bình an. Trong những ngày Trương Sinh chiến đấu nơi sa trường, nàng càng bộc lộ là một người thủy chung, yêu chồng hết mực. Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy vườn”, “mùa xuân mây che kín núi”, nàng lại chạnh lòng thương nhớ chồng.
Trong mối quan hệ với mẹ chồng và con cái, Vũ Nương còn là dâu thảo, mẹ hiền. Mẹ chồng già yếu, đổ bệnh nên nàng hết sức thuốc thang, thường xuyên lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Khi bà mất, nàng lo tang ma chu đáo, hiếu nghĩa tròn đầy. Mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu tưởng như mang tính chất ràng buộc, hiếm khi hòa thuận. Thế nhưng những lời trăng trối cuối cùng của mẹ chồng đã khẳng định công lao của Vũ Nương với gia đình chồng. Không chỉ vậy, khi là một người mẹ, Vũ Nương cũng hết sức thương con. Nàng một mình nuôi dạy con, chăm sóc nhà cửa. Nàng đã trỏ bóng mình trên tường và nói đó là người cha để an ủi, dỗ dành bé Đản khi thấy con trông ngóng cha. Qua những chi tiết trên, ta thấy Nguyễn Dữ đã dành cho nàng thái độ trân trọng, ngợi ca hết mực. Vũ Nương thực sư là người xinh đẹp, nết na, hiền hậu, đảm đang, có tấm lòng nhân hậu, hết mực yêu thương gia đình.
Với những nét đẹp trên, những tưởng Vũ Nương sẽ có một cuộc đời yên ấm, hạnh phuc nhưng ngờ đâu, số phận nàng lại là chuỗi ngày tăm tối, bi kịch. Vũ Nương vừa là nạn nhân của chiến tranh phong kiến phi nghĩa vừa là nạn nhân của chế độ nam quyền. Vũ Nương sống vào thời kì đất nước loạn lạc, chiến tranh nổ ra liên miên, đời sống nhân dân cơ cực. Hoàn cảnh đất nước, thời đại chính là một phần nguyên nhân đem đến bất hạnh cho Vũ Nương, khiến vợ chồng chia lìa và đẩy nàng đến bi kịch về sau.
Không chỉ vậy, việc xuất thân là “con kẻ khó” còn khiến nàng bị mua bán như một món hàng qua “trăm lạng vàng”. Dẫu nàng có dịu dàng, đôn hậu đến bao nhiêu để thì trong gia đình vẫn ngầm tồn tại sự phân biệt giai cấp, trọng nam khinh nữ. Chế độ nam quyền đã sản sinh ra những người đàn ông gia trưởng, bảo thủ như Trương Sinh và trói buộc người phụ nữ vào cái khuôn “Tam tòng tứ đức”. Trước cơn thịnh nộ của Trương Sinh, Vũ Nương không thể phản kháng. Khi Trương Sinh trở về nghi ngờ nàng thất tiết nàng chỉ có thể khóc và thanh minh bằng những lời lẽ tha thiết, dịu dàng, nhắc nhở đến tình nghĩa vợ chồng. Vũ Nương chỉ biết chờ mong chồng hiểu cho tấm lòng của mình. Dẫu Trương Sinh có mắng nhiếc, đánh đuổi, không cho cơ hội giãi bày, nàng cũng không hề oán giận. Họ hàng, làng xóm đứng ra bảo vệ Vũ Nương vẫn không thể cứu vãn gia đình nàng khỏi nguy cơ tan vỡ. Cuối cùng, nàng đau đớn, tuyệt vọng, chỉ còn cách mượn tạm nước sông Hoàng Giang để chứng minh sự trong sạch. Nàng “tắm gội chay sạch” rồi ra bờ sông nói lời nguyện cầu mong thần linh chứng giám. Hành động này thể hiện cố gắng bảo vệ danh dự, tiết hạnh vô cùng mãnh liệt của Vũ Nương. Đối với nàng, lòng tự trọng là thứ quý giá còn hơn cả sinh mạng.
Tấm lòng son sắt của Vũ Nương còn được thể hiện vào sau khi nàng được Linh Phi cứu. Dù được sống cuộc đời an nhàn, bất tử nhưng lòng nàng lúc nào cũng hướng về quê hương, không nguôi mong nhớ về gia đình. Chi tiết nàng gặp lại Phan Lang dưới thủy cung và gửi chiếc thoa cho thấy tấm lòng vị tha, nhân hậu. Về sau, khi Trương Sinh đã tỉnh ngộ, Vũ Nương không một lời oán hận, trách móc: “Đa tạ tình chàng. Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Lúc này, tất cả đã quá muộn màng. Nỗi oan khuất, đau khổ của Vũ Nương không phải là một số phận cá biệt mà là đại diện tiêu biểu cho biết bao phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công, tàn bạo.
Với việc xây dựng được tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ đối thoại, chi tiết mang tính thắt nút và mở nút, xây dựng nhân vật đặc sắc cùng miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và kết hợp hài hòa giữa hiện thực và kì ảo, Nguyễn Dữ đã khắc họa chân thực về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Tác giả ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp của họ và lên án, tố cáo xã hội phong kiến với chế độ nam quyền, sự phân biệt giai cấp và chiến tranh phi nghĩa đã tước đi hạnh phúc con người.
“Chuyện người con gái Nam Xương” đã vẽ nên bức tranh hiện thực sinh động và đặt ra vấn đề quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc, ngòi bút nhà văn hướng về người phụ nữ và đưa họ vào vị trí trung tâm tác phẩm. Tác phẩm thực sự là “một áng “thiên cổ kỳ bút”, cho riêng thể loại truyện ngắn Việt nam một truyện ngắn vừa là đột khởi vừa là đỉnh cao vời vợi trong muôn đời.”
*mong bạn cho vote5 và hay nhất cảm ơn*
@teocute09
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin