

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Mở bài:
- Giới thiệu về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
- Là thể thơ xuất hiện khá nhiều trong văn học Việt nam, đặc biệt là trong nền văn học trung đại.
- Các nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nguyễn Khuyến.
- Tác phẩm tiêu biểu đã học: Nam quốc sơn hà, Bánh trôi nước, Cảnh khuya, Bạn đến chơi nhà
Thân bài:
Giới thiệu xuất xứ của thể thơ: Xuất hiện từ đời Đường - Trung Quốc và được thâm nhập vào Việt Nam từ rất lâu.
Đặc điểm của thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt.
- Mỗi bài có bốn câu, mỗi câu có bảy tiếng.
- Số dòng số chữ trong câu trong bài bắt buộc không được thêm bớt
- Luật bằng trắc: có bài gieo vần bằng hoặc gieo vần trắc nhưng bằng là phổ biến
- Cách đối: đối hai câu đầu hoặc hai câu cuối, có bài vừa đối hai câu đầu, vừa đối hai câu cuối hoặc không có đối.
- Cách hiệp vần: Thường chữ cuối câu một bắt vần với chữ cuối câu 2, 4. Chữ cuối câu hai bằng vần với chữ cuối câu cuối.
Bố cục:
- 4 phần: Đề, thực, Luận, Kết. (chủ yếu)
- 2 phần: 2 câu đầu tả cảnh, hai câu cuối tả tình
Nhận xét, đánh giá chung
- Ưu điểm: là thể thơ tứ tuyệt có sự kết hợp hài hoà cân đối cổ điển nhạc điệu trầm bổng đăng đối nhịp nhàng. Có nội dung rất đa dạng và phong phú dễ đi vào lòng người.
- Nhược điểm: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt có thi pháp chặt chẽ, nghiêm cách, vô cùng đa dạng nhưng không hề đơn giản, số câu số chữ bắt buộc không được thêm bớt.
Kết bài
Khẳng định thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là một trong những thể thơ hay, góp phần vào những thành tựu rực rỡ về thơ ca của nền văn học nước nhà và thế giới.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Chắc hẳn bất cứ ai trong chúng ta cũng từng nghe nhà văn Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương. Trong cuộc đời, ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ trào phúng, tiêu biểu trong số đó là Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu. Trong tác phẩm ông đã thể hiện nỗi buồn day dứt khi nền khoa cử nước nhà nhốn nháo, nhố nhăng trong thời đại nửa thực dân nửa phong kiến.
Văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu còn có tên khác là "Vịnh khoa thi hương", được sáng tác năm 1897 với thể loại Thất ngôn bát cú Đường luật cùng với PTBD chính là biểu cảm và tự sự. Bài thơ miêu tả lễ xướng danh khoa thi Hương tại trường Nam năm 1897, qua đó nói lên nỗi nhục mất nước và niềm chua xót của kẻ sĩ đương thời.
Hai câu đề giới thiệu một nét mới của khoa thi Đinh Dậu:
"Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà."
Việc thi cử ngày xưa là của vua, của triều đình nhằm mục đích kén chọn kẻ sĩ tài giỏi, chọn nhân tài ra làm quan giúp vua, giúp nước. Bây giờ nước ta đã bị thực dân Pháp thống trị, việc thi cử vẫn còn thi chữ Hán theo lộ cũ “ba năm mở một khoa” nhưng đã cuối mùa. Và kẻ chủ xướng ra các khoa thi ấy là nhà nước là chính phủ bảo hộ. Câu thơ thứ hai nêu lên tính chất hỗn tạp của kì thi này: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Đời Nguyễn, ở Bắc Kì có hai trường thi Hương là trường thi Hà Nội và trường thi Nam Định. Tây thực dân chiếm trường thi Hà Nội, nên mới có chuyện sĩ tử Hà Nội phải thi lẫn với trường Hà như thế. Từ "lẫn" còn thể hiện tính chất hỗn tạp, bát nháo, trái ngược với thông lệ, thiếu nghiêm túc trong buổi giao thời. Từ đó thông báo về một kì thi bất bình thường.
"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa"
Sang hai câu thực, sĩ tử và quan trường được nhà thơ Tú Xương biếm họa rất tài tình:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa”
Tú Xương có biệt tài mà Nguyễn Công Hoan tôn như “thần thơ thánh chữ” là chỉ trong một chữ đã lột tả được thần thái của sự vật. Chỉ một từ “lôi thôi” được đảo ra phía trước, nhấn mạnh là hình ảnh của sĩ tử bị chìm trong sự nhếch nhác. Sĩ tử mà bút mực đâu không thấy, chỉ nổi bật lủng lẳng một cái lọ. Thể hiện dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác. Tác giả như trâm biếm về các sĩ tử bị nhiễm phong cách thực dân.
Quan trường thì bị trâm biếm như những người ra oai, giả sách với từ ậm ọe. Sĩ tử thì đông vì dồn cả hai trường thi lại nên quan trường phải “thét loa” lại còn lên giọng đe nẹt sĩ tử nên thành ra “ậm ọe” tởm lợm thật đáng ghét. Thái độ trào lộng của nhà thơ thật rõ ràng. Nghệ thuật sử dụng từ láy tượng hình, tượng thanh kết hợp với phép đảo ngữ và phép đối: "lôi thôi sĩ tử" trái với "ậm ọe quan trường". Sĩ tử thì đông vì dồn cả hai trường thi lại nên quan trường phải “thét loa” lại còn lên giọng đe nẹt sĩ tử nên thành ra “ậm ọe” tởm lợm thật đáng ghét. Thái độ trào lộng của nhà thơ thật rõ ràng. Đô'i với “sĩ tử”, Tú Xương thấy nhếch nhác đáng thương; đối với “quan trường”, Tú Xương khinh ghét ra mặt. Quan trường của một kì thi quốc gia bát nháo mà còn “ậm ọe” không biết nhục. Gợi lên sự hỗn tạp, lộn xộn, láo nháo của khung cảnh trường thi, mất đi sự trang nghiêm vốn có khi đất nước rơi vào nửa thực dân nửa phong kiến.
Đến với 2 câu luận đã có sự xuất hiện hình ảnh của con người, ở đây chính là "đại sứ quán" của thực dân.
“Cờ cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê phết đất mụ đầm ra”
Tác giả như buồn thay vì nền giáo dục nước nhà. Là kì thi của nước ta mà chỉ vì quan sứ, mụ đầm- vợ của quan sứ mà lại còn có cờ cắm. Thể hiện thái độ chê bai trước phong cách lòe loẹt váy lê lết của "mụ đầm". Lọng là cái che trên đầu “quan sứ” mà lại đôi với “váy” là cái che dưới mông “mụ đầm”! “Quan sứ” đến”, “mụ đầm ra”, chúng nó “đến”, nó “ra” như thế thì nhục quá, không chịu được, Tú Xương đã chơi một đòn trí mạng vào bọn Tây đầm thực dân nhốn nháo vào cái thời buổi nhô' nhăng! Từ đó phản ánh sự sa sút về chất lượng thi cử ở xã hội thời đó, đồng thời còn thể hiện sự khinh bỉ, giễu nhại của Tú Xương dành cho bọn thực dân phương Tây.
Kết thúc bài thơ, tác giả chuyển từ giọng điệu trào lộng sang giọng điệu trữ tình thâm trầm. Tú Xương đau lòng nhắn nhủ với “nhân tài đất Bắc”:
“Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà”
Câu thơ như một lời than; trong lời kêu gọi hàm chứa bao nỗi xót xa, tủi nhục và cay đắng."Đất Bắc" vốn là từ chỉ Hà Nội, là nơi hội tụ của ngàn năm kinh đô, là nơi của bậc đế vương ngự trị, nơi của anh tài khắp đất nước hội tụ về đây. Lời thơ như một tiếng than đau xót vô vàn của Tú Xương khi mắt phải nhìn thấy đất nước đang dần rơi vào tay giặc. Ông đang nói với chính mình hay là đang kêu gọi ai, ai còn nghĩ tới nỗi nhục mất nước, ai còn tự hào với dân tộc bốn ngàn năm lịch sử này. Giọng điệu thơ trữ tình mang âm điệu xót xa như một lời lay gọi, đánh thức lương tri, lương tâm của kẻ sĩ.
Vịnh khoa thi Hương là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Tú Xương vừa hiện thực lại vừa trữ tình. Qua đó khẳng định được tài năng của ông, khi chỉ cần vẽ lên một khung cảnh một kì thi Hương mà đã nói lên được cả cái bản chất của xã hội lúc bấy giờ.
#phanhaicaominh123
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin
7
1346
0
hong phải
7
1346
0
ý là viết giàn ý về 1 bài nào đó cơ
7
1346
0
đây có phải chi tiết đâu