

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Vt về lãnh tụ là 1 đề tài quen thuộc nhưng 0 hề dễ vt. Có nhiều sáng tác văn chương thuộc đề tài này, tuy nhiên những tác phẩm chinh phục đc độc giả cả nc thì 0 nhiều. Trg đó “ VLB” của VP đc đánh giá là bài thơ xúc động và hấp dẫn vt về chủ tịch HCM. Vs sự kính yêu, thương xót và niềm bt ơn vô hạn, nhà thơ VP 0 chỉ dâng lên Bác nén tâm hương của lòng mình mà còn thay lời muốn ns với ĐB cả nc.
Bài thơ đc vt vào tháng 4-1976, 1 năm sau ngày giải phóng miền nam, đát nc vừa đc thống nhất. Đó cx là khi lăng chủ tịch HCM vừa ddc khánh thành, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của ND cả nc là đc đến viếng lăng Bác. Tác giả là 1 ng con miền Nam, suốt 30 năm hđ và chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ xa xôi. Cx như ĐB và chiến sĩ miền Nam, nhà thơ mong mỏi đc ra thăm Bác và chỉ đến lúc này, khi đất nc đã thống nhất, ô ms can thực hiện đc ước nguyện ấy. Tcam đối vs Bác trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ này. Bài thơ gồm 4 khổ, mỗi khổ như 1 cánh cửa dẫn đến gần hơn vs Bác với trái tim nhà thơ. Toàn bài đc triển khai theo bố cục từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ cảnh quan bên ngoài vào trong lăng Bác và từ hành trình đến trái tim. Khổ thơ thứ I bày tỏ hoàn cảnh của ng con viếng Bác và 0 gian bên ngoài lăng: // Con ở MB ra thăm Bac…Bão táp mưa sa đứng thăng hàng// Lời thơ ngắn gọn, giản dị không hoa mĩ, câu thơ như một lời chào, một lời gửi thưa thành kính. Địa danh “miền Nam” cũng thật giàu sức gợi. Nó không chỉ xác định vị trí địa lí rất xa xôi mà còn có ý nghĩa lịch sử. Trong tim Bác, miền Nam luôn là nỗi đau chia cắt, là biểu tượng anh hùng, là thành đồng Tổ quốc… Trong tâm trạng của người con miền Nam “mong Bác nỗi mong cha”. Đó là niềm mong ước không chỉ của riêng nhà thơ mà còn của biết bao người con miền Nam muốn được gặp Bác, muốn được ở bên Bác. Niềm mong ước ấy giống như cây tìm về cội, sông trở về nguồn, như máu chảy về tim. Đó là tình cảm chân thành, tha thiết của nhà thơ đối với vị cha già dân tộc. Nhà thơ xưng “con” - “Bác”,“con” - cách xưng hô thật gần gũi, thân thiết, ấm áp thân thương mà vẫn rất mực thành kính thiêng liêng. Trong sâu thẳm lòng mình Viễn Phương coi Bác là người cha nhân hậu, hiền từ như nhà thơ Tỗ Hữu đã từng bộc bạch: “Bác Hồ là vị cha chung Là sao bắc đẩu là vầng thái dương.//n Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. “Viếng” là đến chia buồn với người thân đã mất, “thăm” là gặp gỡ, trò chuyện với người đang còn sống. Nhan đề dùng từ “viếng” theo đúng nghĩa đen, trang trọng khẳng định sự thật Bác đã qua đời. “Thăm” trong câu thơ ngụ ý nói giảm, nói tránh, giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát, khẳng định Bác vẫn còn sống mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, dân tộc Việt Nam. Đồng thời gợi sự thân mật, gần gũi: Con về thăm cha - thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi Bác ở để thỏa lòng khát khao, mong nhớ bấy lâu. Câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng gợi cảm, dồn nén biết bao cảm xúc. Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn hay ở hình ảnh “hàng tre xanh bát ngát”.Nhà thơ phải đến xếp hàng từ rất sớm mới thấy trong lung linh sương sớm bát ngát hàng tre. “bát ngát” - từ láy biểu cảm gợi không gian rộng lớn, xanh mát. Câu thơ tả thực “tre” là hình ảnh thân thuộc mà bao năm in vào tâm hồn người dân Việt Nam. Gặp lại hàng tre nhà thơ liên tưởng Bác đang sống gần gũi thân thuộc với làng quê. Hàng tre ấy như bao bọc, ôm lấy hình bóng của Người - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sự xuất hiện của hàng tre khiến nhà thơ phải thốt lên: “Ôi! Hàng tre xanh xanh Viêt Nam.” Thán từ “ôi” tách ra thành câu đặc biệt vừa biểu lộ sự ngạc nhiên, vừa diễn tả nỗi xúc động. “Hàng tre xanh xanh Việt Nam” là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho con người, dân tộc Việt Nam anh dũng, kiên cường . “Bão táp mưa sa” là thành ngữ, chỉ những khó khăn, gian khổ. Còn tư thế “đứng thẳng hàng” là ẩn dụ chỉ sức mạnh tinh thần, ý chí, bản lĩnh kiên cường, bất khuất. Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng không chịu khuất phục tước kẻ thù, không chịu đầu hàng trước thiên tai bão lũ dù trong khó khăn gian khổ, trong bão táp mưa sa vẫn giữ vững một tấm lòng thủy chung son sắt. Tới đây, tình cha con ruột thịt đã được mở rộng, nâng lên hòa quyện trong tình quần chúng - lãnh tụ cao quý và thiêng liêng.
Cuộc đời thanh cao, giản dị và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là đề tài lớn, là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca. Mỗi tác phẩm viết về Người không chỉ xuất phát từ tình yêu nghệ thuật, lòng biết ơn mà còn là kết tinh của tình yêu lãnh tụ, yêu quê hương đất nước. Có nhiều bài thơ hay, xúc động viết và Bác, trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương. Bài thơ là tình cảm thiết tha, sự xúc động nghẹn ngào pha lẫn nỗi xót đau, lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ và nhân dân Việt Nam dâng lên Bác. Khổ thơ thứ hai của bài đã nói lên niềm xúc động của nhà thơ khi hòa cùng dòng người vào lăng viếng Bác.
Nếu như ở khổ thơ đầu nhà thơ bộc lộ cảm xúc khi đứng trước cảnh vật ngoài lăng, ấn tượng sâu sắc về hàng tre trước lăng thì đến khổ hai nhà thơ tiếp tục thể hiện những xúc cảm của mình trước những đoàn người vào lăng viếng Bác và bộc lộ tình cảm thành kính, biết ơn của nhà thơ với Bác.//Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.// Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật điệp ngữ, hai hình ảnh mặt trời sóng đôi nhau xuất hiện. Mặt trời trên lăng là “mặt trời” của thiên nhiên, vũ trụ ấm áp, rực rỡ chiếu sáng, mang lại nguồn sống cho muôn vật muôn loài trên trái đất. Còn“mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ để chỉ Bác Hồ.Cái mới mẻ của Viễn Phương là đã kết hợp ẩn dụ với nghệ thuật nhân hóa. Mặt trời của tự nhiên vốn đã đẹp, vốn đã rực rỡ chói lóa, ấy vậy mà vẫn phải ngưỡng mộ trước vẻ đẹp tài năng và nhân cách của Hồ Chí Minh. Với việc ví Bác với mặt trời, Viễn Phương vừa ca ngợi được sự vĩ đại của Bác vừa nhấn mạnh được tư tưởng ngời sáng của Người, lại vừa thể hiện được lòng thành kính của nhân dân, của nhà thơ đối với Bác Hồ. Cặp câu thơ thứ hai nhà thơ miêu tả: //Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.// Nhịp thơ chậm chậm như bước chân đi lặng lẽ. Đoàn người vào lăng viếng Bác nối nhau thành “dòng” không dứt. Thông qua nghệ thuật ẩn dụ dòng người bất tận kia trở thành “tràng hoa” dâng lên vị cha già dân tộc. “Tràng hoa” có thể là hình ảnh thực, có thể là ẩn dụ chỉ tấm lòng, tượng trưng cho muôn triệu cuộc đời nở hoa dưới ánh sáng mặt trời Bác Hồ rực rỡ. Dù hiểu theo cách nào hình ảnh thơ cũng thật đẹp. Điệp ngữ “ngày ngày” được nhắc lại hai lần, vừa có ý nhấn mạnh, vừa có ý so sánh. Giống như “mặt trời đi qua trên lăng”, tình cảm của nhân dân với Bác cũng vĩnh hằng như quy luật vận hành của vũ trụ. Hơn thế nữa, niềm thương nhớ Bác được Viễn Phương diễn tả qua một hình ảnh xúc động “đi trong thương nhớ”. Thương nhớ từ lòng người, nhuốm phủ lên tất cả để làm thành không gian thương nhớ. Hóa ra niềm tôn kính Bác đâu chỉ của riêng nhà thơ. Niềm tôn kính Bác là của chung dân tộc. Tình cảm ấy không vô hình, cụ thể bao trùm lên trong không gian, thời gian vô tận “ngày ngày”. Đặc biệt, hình ảnh “bảy mươi chín mùa xuân” là hình ảnh hoán dụ thật đẹp mang ý nghĩa tượng trưng vì “mùa xuân” không chỉ gợi tuổi mà còn gợi đến sự bất tử và khẳng định sức cống hiến không mệt mỏi, thanh xuân tươi trẻ mãi của Bác Hồ cho đất nước, nhân dân. “bảy mươi chín mùa xuân”, Bác ra đi khi vừa tròn 79 tuổi - 79 năm -79 mùa xuân Bác đã cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp của dân tộc mà không giành một chút riêng tư về mình. Bằng thể thơ tám chữ, ngôn ngữ bình dị, nhịp thơ chậm dãi, giọng điệu trang trọng và cảm xúc thiết tha thiết kết hợp nhiều hình ảnh ẩn dụ, điệp ngữ, nhân hóa, khổ thơ thứ hai đã nói hộ bao người tình cảm thành kính, biết ơn với Bác người đã đem lại mùa xuân nở hoa mãi mãi cho dân tộc chúng ta.
Khổ thơ thứ ba là những cảm xúc của tác giả khi vào trong lăng, đứng trước di hài Bác. Bài thơ là dòng chảy cảm xúc theo chân nhà thơ trong hành trình từ ngoài đi vào lăng viếng Bác. Với giọng thơ vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, tự hào kết hợp với hình ảnh thơ sáng tạo, vừa thực vừa giàu tính biểu tượng.Hòa theo dòng người vào lăng viếng Bác, khi đứng trước di hài Bác nhà thơ nâng niu, trân trọng cả giác ngủ của người - giấc ngủ bình yên trong ngày đất nước thống nhất. Khung cảnh và không khí trong lăng được tái hiện ngay cặp câu đầu://Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.//Câu thơ mở ra một không khí trang nghiêm, thanh tĩnh trong lăng, nhà thơ cảm nhận Bác đang ngủ - một “giấc ngủ bình yên”, cách nói giảm nói tránh, giảm bớt sự đau thương, mất mát của cả dân tộc khi Bác đã ra đi. Đồng thời cho thấy giấc ngủ nhẹ nhàng, bình yên, thanh thản của Bác trong giấc ngủ ngàn thu. Bởi cả cuộc đời của Bác chưa đêm nào Người có một giấc ngủ trọn vẹn, Người luôn trằn trọc, băn khăn vì vận mệnh đất nước. Hình ảnh vầng trăng trong câu thơ “Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền” là một hình ảnh đầy chất thơ, giàu sức gợi. Đây là hình ảnh ẩn dụ gợi ta liên tưởng đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong gợi ta nhớ đến những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Bác.Qua những vần thơ về trăng của Bác, chúng ta thấy tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, chất nghệ sĩ trong con người Hồ Chí Minh. Cùng với mặt trời, hình ảnh vầng trăng đã hoàn thiện bức chân dung Hồ Chí Minh trong tâm khảm mỗi người: chói lóa, rực rỡ, trong sáng, thanh cao, hiền lương, thương mến. “Vầng trăng” tỏa chiếu giấc ngủ của Người thật phù hợp và có ý nghĩa. Nhờ đó, người đọc cảm nhận đầy đủ hơn, xúc động hơn về “giấc ngủ” đẹp đẽ, thanh cao của một con người đã bao đêm không ngủ, đấu tranh và hi sinh quên mình cho dân tộc, nhân loại.Trong khung cảnh bình yên đến tưởng như ngưng kết cả không gian, thời gian, tâm trạng và cảm xúc nhà thơ chuyển sang niềm xót xa, đau đớn, tiếc nuối.//Vẫn biết trời xanh là mãi mãiMà sao nghe nhói ở trong tim.// Hình ảnh "trời xanh" là hình ảnh của thiên nhiên tồn tại mãi mãi, vĩnh hằng, là hình ảnh ẩn dụ khẳng định Bác là trời xanh, cũng giống như Bác là mùa xuân, là mặt trời… Viễn Phương dùng hình ảnh ẩn dụ, so sánh Bác với bao nhiêu hình ảnh kì vĩ, lớn lao là để khẳng định cái vô cùng cao cả và sức sống vĩnh hằng của Người “Bác sống như trời đất của ta…”. Bác còn mãi với non sông, đất nước như trời xanh. Người hóa thân vào thiên nhiên mây núi để trở thành hồn thiêng dân tộc.“Vẫn biết” là đã nhận thức được như thế nhưng lí trí không điều khiển được cảm xúc, tình cảm xót thương không chấp nhận sự mất mát, ra đi mãi mãi của Người. Nỗi đau được nhà thơ thể hiện thông qua nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Mà sao nghe nhói ở trong tim!” Cặp quan hệ từ "Vẫn ... mà" kết hợp với dấu chấm than ở cuối khổ thơ diễn tả sự mâu thuẫn: cảm giác nghe nhói ở trong tim mâu thuẫn với nhận biết trời xanh là mãi mãi. Giữa tình cảm và lý trí có sự mâu thuẫn. Và con người đã không kìm nén được khoảnh khắc yếu lòng. “Nhói” là từ ngữ biểu cảm trực tiếp, biểu hiện nỗi đau đột ngột, quặn thắt. Nỗi đau tinh thần được cụ thể hóa bằng nỗi đau thể xác. Đây chính là cảm xúc chân thành, sự rung động mãnh liệt chân của Viễn Phương được bộc lộ trực tiếp khi đứng trước di hài của Bác. Cảm xúc này là đỉnh điểm của nỗi nhớ thương, của niềm đau xót. Trong tâm hồn dân tộc, Bác còn sống mãi nhưng thực tế chúng ta đã vĩnh biệt Người - vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già kính yêu. Đó là mất mát lớn lao không gì bù đắp được! Mạch cảm xúc từ thành kính chuyển sang tiếc thương ngậm ngùi, câu thơ đọc lên như một tiếng khóc đến nghẹn ngào, để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Như vậy, bằng các biện pháp tu từ ẩn dụ, giọng thơ khi thì xót xa, tiếc nuối, khổ thơ thứ ba đã diễn tả được một cách sâu sắc nỗi niềm xúc động, nghẹn ngào của nhà thơ khi vào trong lăng, đứng trước di hài Bác. Tình cảm ấy không chỉ là của riêng nhà thơ mà còn là tình cảm chung của bao người dân dành cho Bác kính yêu.
Bài thơ kết thúc trong tình cảm thương nhớ và lưu luyến không rời của Viễn Phương với bác. Đây cũng là dòng cảm xúc được đẩy tới mức cao trào nhất.//Mai về miền Nam thương trào nước mắt.// Nghĩ đến lúc phải ra về, phải trở lại miền nam, phải xa Bác, nhà thơ rưng rưng niềm xúc động. Từ ngữ thời gian "Mai" đi liền với địa danh "miền Nam" gợi sự chia xa, gợi khoảng cách, gợi cả tấm lòng, tình cảm của những người con miền Nam. Thương trào nước mắt là cảm xúc bộc lộ trực tiếp, là sự bịn rịn, lưu luyến nhớ thương không muốn rời xa lăng Bác. Chữ “thương” giản dị mà xúc động. Niềm thương không chỉ là cảm xúc dâng ngập trong tâm hồn mà trào lên thành “nước mắt” phải chăng vì cảm thông được niềm ao ước bấy lâu về một ngày thống nhất vẫn nặng lòng Bác lúc ra đi; thương vì Bác chưa thỏa ước nguyện thấy nhân dân được hưởng sự sung sướng, hạnh phúc khi Bắc Nam sum họp một nhà. Trong giây phút ngẹn ngào, Viễn Phương bộc lộ tấm lòng kính yêu, ước nguyện chân thành đối với Bác. //‘’Muốn làm con chim hót quanh lăng BácMuốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đâyMuốn làm cây tre chung hiếu chốn này.’’// Điệp ngữ muốn làm được nhắc lại ba lần để nhấn mạnh mong ước chân thành, tự nguyện, giản dị, cao đẹp của Viễn Phương. Đồng thời tạo nhạc điệu ngân dài, vang mãi trong khổ thơ, diễn tả tình cảm lưu luyến không rời của Viễn Phương với Bác. Hệ thống hình ảnh giàu sức gợi: "con chim", "đóa hoa", "cây tre" mang nhiều ý nghĩa: Lớp nghĩa thực: Tác giả muốn góp cuộc đời mình để làm đẹp cho cảnh quan quanh lăng, ao ước được hóa thân thành con chim để cất tiếng hót làm vui lăng Bác; làm giỏ hoa để đem lại sắc hương, tô điểm cho vườn hoa quanh lăng. Đặc biệt là ước nguyện "muốn làm cây tre trung hiếu" để nhập vào hàng tre bát ngát, toả bóng mát cho lăng.Lớp nghĩa ẩn dụ: khát vọng ở lại để canh giấc ngủ thiên thu cho Người; bày tỏ niềm biết ơn sâu sắc dành cho vị cha già của dân tộc; góp phần làm nên vẻ đẹp bất khuất, hiên ngang, trung hiếu của tâm hồn Việt Nam.Hình ảnh “cây tre trung hiếu” gợi đến người con trung kiên, hiếu nghĩa, một lòng vì nước vì dân. Khổ thơ do đó không chỉ bộc lộ tình cảm thương nhớ, lưu luyến mà còn biểu đạt một cách xúc động tình cảm thủy chung, son sắt của nhà thơ, của nhân dân miền Nam, nhân dân cả nước với Bác Hồ vô vàn kính yêu.
Tóm lại, bằng tất cả tình cảm chân thành, Viễn Phương đã làm “Viếng lăng Bác” trở thành một bản tình ca bất tận để lại ấn tượg sâu sắc cho bao người dân Việt Nam. Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung hay không chỉ vì các nghệ thuật độc đáo mà quan trọng hơn, đó là sự kết hợp nhuẫn nhị giữa cái “tâm” của một nguời con yêu nước và cái “tài” của người nghệ sĩ. Rất nhiều năm tháng đã đi qua nhưng mỗi thế hệ đọc “Viếng lăng Bác” đều đón nhận vào tâm hồn mình một ánh sáng tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và đồng thời cũng thấm nhuần vẻ đẹp trong suốt, lấp lánh toả ra từ chính cuộc đời, trí tuệ và trái tim Bác Hồ.
Tác động của bài thơ:
Bài thơ không chỉ thể hiện niềm xúc động của nhà thơ Viễn Phương khi từ miền Nam ra thăm Bác mà còn thể hiện sự thành kính, biết ơn, kính yêu của toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung và bản thân tôi nói riêng
$@morika^{}$ $hoidap247{}$
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin