

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!

Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
I. Mở bài
- Vài nét về tác giả, tác phẩm.
- Dẵn dắt vào ý kiến và vấn đề cần làm nổi bật.
II. Thân bài
1. Giải thích ý kiến
Thơ sinh ra từ tình cảm: Cũng như văn học, thơ ca nhản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Nhưng hình tượng trong thơ không phải được xây nên từ óc quan sát, chiều sâu nhận thức, tư duy logic của lý trí, mà nó gán với cảm xúc, với tâm hồn.
“Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim” (Đuybrlay). Đến với thơ, tâm hồn ta phải được chan hòa trong thế giới cảm xúc. Thơ là cơn gió. Tâm hồn ta là mặt nước phẳng lặng và bình yên. Cơn gió thơ có đủ mạnh để làm mặt nước tâm hồn ta xao động, đó mới thực sự là thơ.
Nhưng thơ đâu phải chỉ có thể. Hơn 2000 năm trước, Trang Tử đã có một triết lý rất hay về biển cả: “Biển cả là nơi mà tất cả các nguồn nước trên thế gian này đều đi ra từ đó nhưng nó không vơi, và nó cũng là nơi đón nhận tất cả các nguồn nước nhưng nó không đầy”. Văn học cũng như những nguồn nước, đều đi ra từ biển cả cuộc đời. Hàng ngày, tiếng sóng thủy triều vẫn âm vang chuyên chở sóng biển đời thường đến với trang thơ. Những sự chuyên chở ấy có bao giờ ngừng nghỉ, cũng như mảnh đất hiện thực có bao giờ vơi đi, khi người nghệ sĩ đến đó để chở nắng gió cuộc đời tưới mát muôn cây. Thơ ca phải gắn mình vào nguồn mạch cuộc sống và nhịp nối giữa thơ với cuộc đời chính là tâm hồn, trí tuệ nhà thơ.
Người, làm thơ, bình thơ xưa và nay đã bộc lộ rất nhiều quan niệm về thơ. Có người cho thơ là “thần hứng” (Platông), là “ngọn lửa thần”, là “cơn điên loạn thần thánh”, “thơ là sự tuôn trào bộc phá những tình cảm mãnh liệt”. Thơ ca không phải thuộc về một cõi huyền nhiệm, mông lung, diệu vợi; thơ ca lại càng không phải là “một thứ nghề chơi”, là trò đùa cảm hứng. Thơ gần gũi và thân thiết biết bao, thơ gắn với cuộc đời ta đang sống, thơ phản ánh cuộc đời theo quy luật văn chương.
-> Bởi vậy mới có thể nói "thơ ca sinh ra từ tâm hồn con người". Cũng nhiều bài thơ Quê hương của Tế Hanh được sinh ra từ một tâm hồn yêu quê hương da diết nồng nàn của một người nghệ sĩ. Đó là một tâm hồn gắn bó thân thiết với quê hương.
- Thơ luôn làm con người ngạc nhiên vì nó tức là ngạc nhiên trước những xúc cảm mà người nghệ sĩ gửi gắm vào thơ. Ngạc nhiên trước cái hình ảnh thơ được gắn liền với đời sống thường ngày, gắn liền với những điều bình dị nhỏ bé quanh người nghệ sĩ ấy.
-> Trong bài thơ Quê hương - nó đã khiến người đọc ngạc nhiên trước những tình cảm, sự gắn bó thân thiết với quê hương của Tế Hạnh. Ngạc nhiên trước cái tình cảm, cảm xúc chân thành xuất phát từ chính trái tim của người nghệ sĩ - tình yêu quê hương, đất nước xuất phát từ sự gắn bó máu thịt của nhà thơ.
2. Phân tích
Bài thơ mở đầu như là lời tự xưng danh, tự thuật rất đỗi tự nhiên và mộc mạc.
Làng tôi ờ vốn làm nghề chài lưới.
Và sau đó nhà thơ đã kể, đã tường thuật về cái làng chài của mình. Câu thơ có tính thông báo tiếp theo cho thấy đây là một làng chài ờ vùng cửa sông gần biển. Bằng hai câu thơ đầu tiên, tác giả đã giới thiệu vị trí địa lý và đặc điểm nghề nghiệp của làng quê. Quê là làng – nghề của làng là chài lưới.
Trong tâm tưởng của nhà thơ, sau lời giới thiệu ấy, hình ảnh làng chài như đang hiện ra trước mắt. Và nhà thơ đã miêu tả cụ thể một ngày ra khơi đẹp trời, dân làng bơi thuyền đi đánh cá. Trong khung cảnh trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng. Phải nói đó là một buổi sáng dẹp trời lý tưởng – vẻ đẹp tinh khôi, mát mẻ, dễ chịu, thoáng đãng, bao la sắc hồn của bình minh. Và chỉ những người làm nghề chài lưới mới thấy hết được tầm quan trọng thiết yếu của những buổi đẹp trời – Không chỉ báo hiệu một buổi ra khơi yên lành, mà còn hứa hẹn những mẻ lưới bội thu. Trong cái quanh cảnh dễ làm lòng người phấn khích ấy, đoàn trai tráng bơi thuyền ra khơi, bắt đầu một ngày lao động của mình. Làm nghề đánh cá nặng nhọc này phải là những người khoẻ mạnh vạm vỡ mới có thể đảm đương nổi. Chỉ có những chàng trai mới có thể điều khiển được chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Có thể nói đây là một chuyến ra khơi đầy hào hứng. Những câu thơ miêu tả trực tiếp cảnh dân làng ra khơi đánh cá có ý nghĩa như những chi tiết tả thực giúp người đọc hình dung được không gian hình ảnh, đoàn thuyền khá sinh động. Trên nền kể tả ấy xuất hiện hai câu thơ mang vẻ đẹp bất ngờ:
Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Cánh buồm là một vật cụ thể hữu hình được ví với mảnh hồn làng là cái trừu tượng, vô hình – một cách ví von nhờ sự liên tưởng khá xa và độc đáo của tác giả. Mỗi một vùng quê sinh sống lâu đời, dường như bao giờ cũng mang một nét rất riêng. Và người xa quê thường cảm nhận nó như linh hồn của làng quê. Đối với Tế Hanh thuở mười tám tuổi, hình ảnh chiếc buồm ra khơi dường như mang hơi thở, nhịp đập, quê hương. Một cánh buồm rướn thân trắng bao la thâu góp gió thật đẹp trong dáng vẻ cường tráng, sức vóc tung toả của nó. Hai câu thơ diễn đạt hình ảnh giàu ý nghĩa, đưa nó lên thành biểu tượng của tâm hồn.
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về lại được miêu tả trong bốn câu thơ:
Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Tác giả không tả một ai cụ thể, mà là tả chung không khí làng chài. Ở đây chỉ có âm thanh ồn ào; chỉ có trạng thái tấp nập, nhưng rõ ràng là một không khí vui vẻ, rộn ràng, thoả mãn. Nhờ ơn trời như là tiếng reo vui, tiếng thở phào nhẹ nhõm cảm tạ thiền nhiên trời biển đã giúp đỡ. Phải con em làng chài mới thấy hết được niềm vui bình dị khi đón ghe đầy những con cá tươi ngon.
Trong khung cảnh ấy, hình ảnh những trai tráng sức vóc dạn dày sóng gió, có làn da ngăm rám nắng được hiện lên qua những câu thơ thật đẹp Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Đây là chân dung những người dân chài lưới, đó như là những sinh thể được tách ra từ biển, mang vị mặn mòi của biển, mang theo về cả những hương vị biển xa. Họ là những đứa con của biển khơi. Câu thơ thật lãng mạn, khoáng đạt, mang vẻ đẹp giản dị nhưng cũng thật khoẻ khoắn, thơ mộng.
Con thuyền trước đây hăng như tuấn mã phăng mái chèo mạnh mẽ ra đi, bây giờ mỏi mệt trở về bến nghỉ. Con thuyền lại được nhân hoá, nó nằm im, mỏi mệt thư giãn và lắng nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Trạng thái nghỉ ngơi của con thuyền thật đặc biệt. Và cũng phải yêu quý lắm, với có thể thấy con thuyền cũng là một thành viên của làng biển như tác giả đã hình dung. Nhưng nói về con thuyền, kì thực cũng nói về con người cả thôi. Giờ đây những người dân chài có thể hoàn toàn yên tâm mà ngả mình mãn nguyện và lặng yên thư giãn. Dư vị của chuyến đi chỉ còn là đôi hình ảnh thấp thoáng, chập chờn trong tưởng tượng êm dịu của họ.
Kết thức bài thơ, tác giả trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ về hình ảnh làng chài theo ấn tượng chung nhất: Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vơi, con thuyền rẽ sóng, và đặc biệt nhớ cái mùi nồng mặn quá.
Nhớ đến cả cái mùi vị riêng biệt của xứ biển tức là nỗi nhớ thật da diết và thật sâu sắc. Vâng, đó là mùi của biển cả, của sóng, của gió, của rong rêu, của cá, của cả cái vị mồ hôi trên lưng áo người đi biển. Cái mùi vị quen thuộc và thân thương đó cũng chính là một phần của hồn làng của quê hương.
Bài thơ trong trẻo từ đầu đến cuối. Đó là tấm lòng yêu nhớ quê hương của một chàng trai thuần hậu gắn bó với cuộc đời. Với Tế Hanh, cái làng chài lưới này đã trở thành nguồn thi cảm không vơi cạn. Người ta thường nói ông là nhà thơ của quê hương sông nước, mà trong nhiều trường hợp quê hương chỉ thu gọn về một cái làng chài lưới của riêng ông.
=> Điều ngạc nhiên mà bài thơ mang lại cho người đọc là cái hình ảnh người dân chài lưới, cái mảnh hồn làng, cái chất muối, cái mùi nồng mặn,.... Tất cả đều được bắt nguồn từ cái nỗi nhớ và tình yêu thương quê hương da diết của nhà thơ.
* Nghệ thuật đặc sắc ở cách cảm nhận tinh thế, hình ảnh đặc trưng và chắt lọc, tác giả làm sống mãi một làng chài thân thương trìu mến. Thuỷ chung với một miền quê – một miền thơ như thế nên vần thơ quê hương của Tế Hanh vẫn giữ mãi một vẻ riêng độc đáo, hấp dẫn bao thế hệ yêu thơ.
* Sử dụng thành công các bút pháp nghệ thuật để miêu tả khiến cho lời thơ thêm đặc sắc, chạm đến trái tim người đọc. Khiến tâm hồn người đọc luôn ngạc nhiên trước cái sự cái sự tinh tế trong cách miêu tả ấy của nhà thơ.
3. Đánh giá
Có thể nói nếu không có sự gắn bó, yêu thương quê hương mình bằng tình cảm trong sáng, đằm thắm thì nhà thơ không thể cảm nhận và thể hiện được một cách tài hoa, sinh động những vẻ đẹp của người quê, cảnh quê trong những câu thơ tươi tắn, nồng nàn như vậy. Đó chính là một tâm hồn yêu quê hương một cách da diết và nồng nàn. Từ cái tâm hồn ấy mà những vần thơ được khởi sinh. Và hơn cả là khiến người đọc ngạc nhiên trước những cái tình cảm ấy. "Quê hương" đúng là một mảnh hồn trong trẻo nhất mà ta gặp trong thơ trước Cách mạng tháng Tám.
III. Kết bài
- Khẳng định lại ý kiến.
- Khẳng định lại những điều làm người đọc ngạc nhiên.
- Khẳng định lại cái tài năng của tác giả cũng như giá trị của tác phẩm.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Từ xa xưa, con người đã biết dùng thơ ca để thể hiện những cảm xúc mạnh mẽ trong tâm hồn. Thơ đến với chúng ta bằng sự đồng điệu của những tấm lòng, bằng mối giao cảm của tiếng nói tri âm, tri kỉ. Thơ là “chuyện đồng điệu” là "tiếng nói đồng ý, đồng tình”, về việc định nghĩa thư Lê Quý Đồn đã có những nhận định về thơ khá sắc sảo: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”, còn Ngô Thì Nhậm lại nhấn mạnh: “ Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”.
Thơ là phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ được hình thành nhờ mối rung cảm thầm kín giữa con người và cuộc sống. Trong dòng chảy của thơ, con người được đắm chìm mình trong tình cảm cửa nhà thơ và của chính mình. Thơ thấm vào lòng người, bởi những cảm xúc trực liếp và nhiều mối liên tưởng kín đáo, bằng ý tứ sâu xa, sức quyến rũ của tiết tấu và thanh điệu. Tất cả những yếu tố ấy ùa vào lòng người đọc, xoá đi hay khắc sâu thêm những tình cảm, tạo nên ấn tượng khó phai mờ. Con người khi đến với thơ tâm hồn sẽ được thanh lọc để trong sáng và cao thượng hơn.
Lê Quý Đôn nói “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”. Nghĩa là thơ phải xuất phái từ tâm hồn. tình cảm của nhà thơ. Rõ ràng thơ khác với thể loại tự sự. Nhà thơ tiếp xúc và phản ánh cuộc sống không phải hàng những chi tiết, bề bộn của hiện thực mà chủ yếu là để bộc lộ tình cảm cùa mình trước cuộc sống. Thơ có tiếng nói riêng, nó như những lời tâm sự làm sống dậy trong lòng ta những kỉ niệm vui buồn của quá khứ xa xôi. Thơ chính là cuộc sống, là sự phản ánh cuốc sống một cách cao đẹp. Cái đẹp của sự sống luôn luôn biến động, vì vậy thơ sinh ra bởi con người nặng tình với cuộc sống. Có tài năng chưa đủ, nhà thơ còn phải yêu cuộc sống và tha thiết với thơ, thơ mới chân thành và rung động lòng người. Thư rất gần gũi nhưng cũng rất cao xa, cao quý và thoát tục.
"Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm tới cuộc sống” (Nguyễn Đình Thi). Đúng như vậy, muốn có thơ, nhà thơ phải chớp được những giây phút xuất thần. Khi đứng trước cảnh vật thiên nhiên, cảnh đời éo le, nỗi đau của con người, nỗi đau thế sự, nếu chỉ có phát ngôn hời hợi ihì không thể thành thơ. Một yếu tố không thể thiếu được đó là sự rung động của trái tím tạo thành điểm giao thoa giữa nội tâm và ngoại cảm. Khi ấy ngòi bút mới có thể xúc động hồn thơ. Thiếu rung động, thơ chi là sự ghép vần, ghép chừ, chỉ còn là cái xác không hồn.
Thơ ca sinh ra từ tâm hồn, từ trong lòng người ta, và trở lại làm cho con người ngạc nhiên vì nó. Phải trả thơ về với cuộc sống sau khi đã chắt lọc từ cuộc sống. Phải nâng thơ lên, khôn" chỉ là sự sống mà phải là thơ. Cho nên thơ không chỉ là sự im lặng giữa các từ, nó là tiếng lòng, là sự tỉnh táo trong cảm xúc vừa trữ tình, vừa suy tưởng để rồi trở thành người bạn trung thành trên mọi chặng đường đời.
Trong quá trình sáng tạo thơ, rung động và cảm xúc là điểm lựa. Từ đó tình cảm trong thơ phải mạnh mẽ và sâu lắng đến tận cùng. Trên thực tế nhiều nhà thơ đã xuất thần trên ngọn bút nhờ cái giây phút xuất thần ấy. Hoàng cầm khi nghe tin giặc đốt phá quê nhà, một vùng quê với bao kỉ niệm, đã viết câu thơ “Sao xót xa như rụng bàn tay”. Quê hương đau như thân thể mình đau.
Có lần Chế Lan Viên tâm sự “Thơ muốn làm cho người ta khóc, trước liên mình phải khóc, muốn làm cho người ta cười, trước hết mình phải cười”. Nghĩa là người làm thơ phải cảm xúc gấp nhiều lần người thường. Cho nên thơ là sản phẩm của một tâm hồn cụ thể mang những điều kì diệu vào bí ẩn của tâm hồn ấy. Thơ là con đẻ của cảm xúc, của trạng thái tâm hồn. Mỗi tâm hồn là vương quốc riêng và một chút rung động đều có thể trở thành thơ. Nhưng không phải cảm xúc nào cũng thành thơ. Trong mọi yếu tố làm nên chất thơ, tình cảm là yếu tố quan trọng, nó là cái gốc, cái cội của thơ. Neười làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy ở trong lòng. Có như vậy Chế Lan Viên mới viết:
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt,
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết,
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông.
Văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng có đối tượng phản ánh là con người và xã hội. Nhưng cuộc sống và con người trong thơ đã được phản chiếu qua một tâm hồn cụ thể. Vi thế thơ là nỗi niềm, là tấm lòng không phá của riêng nhà thơ mà trái tìm nhà thơ phải đập cùng một nhịp đập với ưái tin quần chúng và cả cộng đồng. Nhà thơ phải biết kết hợp tình cảm và lí trí thì mới đem đến cho thơ những cảm xúc sâu sắc. Khi nói về truyền thống của dân tộc nếu không “Khởi phái từ trong lòng”, nếu không bắt đầu từ tận cùng của cản xúc thì làm sao Nguvễn Đình Thi viết được những câu thơ.
Nước chúng ta,
Nước những người chưa ban giờ khuất,
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đứt,
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Cảm xúc tạo nên hình tượng lí trí hoà vào tình cảm khiến cho hình tượng thơ cổ sự hài hoà của tình cảm và lí trí.
Cuộc sống vốn bề bộn và phức tạp, thơ cũng phải đa dạng và phong phú. Người nghệ sĩ phải đi lừ trái tim mình để sáng tạo nghệ thuật. Thơ là tiếng nói đi từ trái tim nhà thơ đến trái tim người đọc. Người đọc thơ muốn tìm thây cảm xúc, lình cảm, tâm trạng của mình trong thơ. Có những bài thơ không cần phân tích, chỉ đọc một cách âm thầm mà người đọc như bị chao đảo:
Đưa người ra không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng.
Trở lại ý kiến của Lê Quý Đôn, ta thấy ngoài cái ý nghĩa tình cảm là gốc của thơ, Lê Quý Đôn muốn nhấn mạnh thơ hay là thơ có cảm xúc bắt đầu từ cái tâm. Cảm xúc không hướng tới cái tâm thì thơ chỉ là những lòi giáo huấn suông và máy móc. Khi Ngô Thì Nhậm nói “ Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” cũng có nghĩa là thơ phải xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của nhà thơ. Phải yêu thương và trân trọng con người và cuộc sống. Thơ muốn hay tình cảm phải bùng cháy, đó là bản chất của thơ, nguyên tắc của thơ. Chỉ khi nào tình cảm tràn ra thì chữ nghĩa trong thơ mới hàm súc và chắt lọc.
Lịch sử nền thi ca nước ta từ cổ điển đến hiện đại đã chứng minh cho điều lí giải trên đây. Nếu không cỏ cái tâm thì Nguyễn Du không viết được câu thơ:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Và nếu không có cái tình thì Nguyễn Đinh Chiểu không thể viết:
Chớ bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Dâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Sau này Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi... đều là những thi sĩ chắt thơ từ cõi lòng, từ trái tim biết nhìn đời, đau đời và biết nâng cuộc đời lên trong những trang thơ. Đồng nghĩa với những ý kiến trên, nhà thơ Chính Hữu đã cho rằng “ Chì có thể có những bài thơ hay nếu mỗi câu có dính máu của mình trong đó”.
Có thể nói những ý kiến của Lê Quý Đôn và Ngô Thì Nhậm đến nay vẫn có giá trị không chỉ về mặt lí luận mà cả về sáng tác. Đó là những ý kiến sâu sắc đóng góp cho nền thi ca Việt Nam. Nó có giá trị như kim chỉ nam giúp các nhà thơ của nhiều thế hệ không đi lệch hướng như con tàu không đi chệch đường ray của mình. Mỏi tay quá sai chỗ nào cho mình xin ý kiến
<3
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?

Bảng tin