

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Lâu nay, nhiều người vẫn hiểu và tin như “đinh đóng cột” danh xưng kênh Vĩnh Tế xuất phát từ việc vua ban đặt tên Thoại Ngọc Hầu phu nhân, bà Châu Thị Tế (1766-1826).
Trong tác phẩm “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, học giả Nguyễn Văn Hầu cho biết: “Nguyên trước kia vì đã lấy tên của Thoại Ngọc Hầu mà đặt tên cho kênh và núi (Thoại Hà và Thoại Sơn) sau khi ông đào xong kênh Đông Xuyên – Kiên Giang, nay không lẽ lại cho lặp lại cùng một tên cũ. Nhà vua xem thấy bên bờ kênh mới đào có núi Sam y như bờ kênh trước kia có núi Sập, lại xét thấy Thoại Ngọc Hầu phu nhân dòng họ Châu Vĩnh, nhũ danh Thị Tế, vốn là người đàn bà đức độ, từng tận lực giúp chồng trên đường công bộc, cho nên ban đặt tên kênh là Vĩnh Tế hà và tên núi ở bờ kênh là Vĩnh Tế sơn” (trang 194).
Tuy nhiên, học giả Nguyễn Văn Hầu chỉ cung cấp căn cứ để xác định tên bà Châu Thị Tế được vua tứ danh cho tên núi Vĩnh Tế tại “Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế sơn bi ký” được biết nhiều qua tên rút gọn: Bia Vĩnh Tế sơn. “Thần vẽ họa đồ dâng lên, ngưỡng mong vua soi xét. Năm trước đây thần phụng mạng xem sóc việc đào kênh Đông Xuyên, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kênh núi Sập, đặt là núi Thoại. Đến nay hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho biết tề gia hợp hòa khí, lại hạ cố tới vợ thần là Châu Thị Tế, rằng có đức dày trong đường lễ giáo, bên trong biết giúp đỡ chồng, một lòng chân thành bền chặt, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là núi Vĩnh Tế”, tác giả Nguyễn Văn Hầu viết.
Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình, điển hình là nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Trong tác phẩm “Cố đô Huế bí ẩn và khám phá”, ông Nguyễn Đắc Xuân đã viết: “Đặc biệt nhà vua lấy tên của bà Châu Thị Vĩnh Tế - người đã giúp chồng trong lúc đào kênh, đặt tên cho công trình kinh tế - quốc phòng có giá trị lịch sử này” .
Vài năm gần đây, từ nguồn tư liệu mới khám phá, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt tồn nghi kênh Vĩnh Tế xuất phát từ tên bà Châu Thị Tế. “Thời gian qua, không ít người tin rằng, do có góp công trong việc giúp chồng hoàn thành con kênh ấy nên nhà vua đã cho lấy tên bà Châu Thị Tế để đặt gọi các danh xưng núi Vĩnh Tế, kênh Vĩnh Tế và Vĩnh Tế sơn thôn. Thậm chí còn cho rằng lấy họ đặt tên cho vùng đất Châu Đốc”, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp - người có nhiều năm nghiên cứu về lịch sử giai đoạn nhà Nguyễn ở An Giang, chia sẻ.
Theo ông Nguyễn Hữu Hiệp, các nhận định này không đủ căn cứ thuyết phục. Bởi đến nay, chưa có bộ chính sử nào của nhà Nguyễn đề cập đến Bia Vĩnh Tế sơn được lập 1828 và Bia Vĩnh Tế hà cũng đã thất lạc, chưa ai thấy và nội dung của tấm bia cũng không ai lưu giữ được.
Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu Trần Hoàng Vũ, trong tác phẩm “Thoại Ngọc Hầu qua những tài liệu mới” (2018) cũng nhận định: “Các ý kiến cho rằng đến năm 1828 mới đặt tên kênh là Vĩnh Tế là không chính xác vì trên thực tế, tên kênh Vĩnh Tế đã xuất hiện vào năm 1819”. Dẫn nguồn Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, ông Vũ khẳng định: “Tháng 9 năm Kỷ Mão (1819), vua chuẩn y việc đào kênh nối liền Châu Đốc đến Hà Tiên và ban cho tên gọi là Vĩnh Tế. Tên gọi Vĩnh Tế hà chính thức ra đời từ đó” (trang 136).
Tương tự, TS Châu Hữu Hầu cũng cho rằng: “Căn cứ vào Đại Nam thực lục, tên gọi Vĩnh Tế hà có trước khi bắt đầu đào”.
Riêng về danh xưng Châu Đốc, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp, muộn nhất cũng từ năm Đinh Sửu (1757) đã xuất hiện danh xưng Châu Đốc qua địa danh “Châu Đốc đạo”. “Như vậy tên gọi Châu Đốc đã có từ trước ngày hoàn thành con kênh Vĩnh Tế (1824) đến những 67 năm. Câu “đất đặt tên theo họ” trong Bia Vĩnh tế sơn, với cách hiểu vùng đất ấy được mang tên Châu Đốc là vua cho lấy theo họ Châu của bà Châu Thị Tế là hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử”, ông Hiệp nhấn mạnh và khẳng định: “Chúng ta ngờ rằng tư liệu ấy, về sau, ai đó đã tự ý soạn đặt chứ không phải “do Thoại Ngọc Hầu làm ra” hoặc “Thần kính biên” như đã ghi trong văn bia”
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
đây không phải bài nhưng nó có thể cho vào bài văn:
Danh thần, nhà doanh điền triều Nguyễn, sinh ngày 26-11-1761 Dương lịch - Tân tị, đời Võ vương Nguyễn Phước Khoát (hay Hoạt) tại làng An Hải Tây, tổng An Lưu Hạ, hụyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường An Hải, quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng).
Đương thời người ta quen gọi ông là Thoại Ngọc Hẫu hay Nguyễn Văn Thoại. Đó là giọng đọc quen thuộc của đồng bào Trung Nam, ở miền Bắc, chữ Thoại đọc là Thụy cho nên các nhà viết sử ngoài Bắc thưởng ghi vào sử liệu của họ tên của Thoại Ngọc Hầu là Nguyễn Văn Thụy. Ngoài lê trên, chữ Thụy còn là quốc húy của thời nhà Nguyễn, do đó, người ta đã e dè vì cữ tên mà đọc là Thoại. suốt hành trình phò tá Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long), Minh Mạng và phục vụ nhân dân, cả đời mình Nguyễn Văn Thoại đã lập công lớn, được phong nhiều chức, tước, trong đó có tước Thoại Ngọc Hầu, thành cái tên thông dụng. Ngày nay, người ta quen gọi theo tên tước (Thoại Ngọc Hầu) hơn là gọi thẳng nguyên danh (Nguyễn Văn Thoại).
Nguyễn Văn Thoại hai lần mang ấn bảo hộ Cao Miên danh nghĩa vang lừng, nên thường gọi là Bảo hộ Thoại, Bảo hộ Thoại cũng được xưng gọi là Nguyễn Hầu, Nguyễn Công và khi mất được vua ban tên thụy là Võ Khắc.
Nguyễn Văn Thoại là con của ông Nguyễn Văn Lượng được vua Minh Mạng sắc phong Anh dũng tướng quân khinh xa đô uý Thần sách Vệ uý Nguyễn Hầu, do vua Minh Mạng đề ngày 21 tháng 7 năm thứ ba (1822) và bà Nguyễn Thị Tuyết cũng được sắc phong mĩ hiệu Thực Nhân (cũng do vua Minh Mạng ban cấp).
Thởi niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại đã cùng mẹ và thân quyến chạy tới sông Cổ Chiên, làng Thới Bình, nằm trên Cù lao Dài (nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) và nương ngu tại đó. Mộ của bà Nguyễn Thị Tuyết, tức vợ của Nguyễn Văn Lượng, về sau được chôn cất tại đây gần mộ của ông Châu Vĩnh Huy và bà Đỗ Thị Toán, thân phụ, thân mẫu của bà Châu Thị Vĩnh Tế và là nhạc phụ, nhạc mẫu của Nguyễn Văn Thoại.
Năm Mậu ngọ (1789) được bổ chức Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, năm Canh thân 1800 theo Nguyễn Ánh chiếm thành Phú Xuân, năm 1802 được thăng Khâm sai Thống binh cai cơ, rồi Cai cơ sang bảo hộ Chân Lạp một thời gian sau được triệu về kinh đô.
Năm 1818 (Gia Long thứ 17) ông được bổ làm trấn thủ Vĩnh Thanh (Long Xuyên - Cần Thơ ngày nay). Tại đây ông cùng quan quân sở tại thiết kế và đốc suất dân binh đào kinh Đông Xuyên ở Long Xuyên (được vua cho gọi tên ông là Thoại Hà).
Tiếp đến năm 1820, ông được lệnh vua Minh Mạng cho đào một con kinh nối liền Châu Đốc với Hà Tiên. Sau khi kinh hoàn thành, được vua Minh Mạng cho lấy tên vợ ông đặt cho kinh này gọi là Kinh Vĩnh Tế (vợ ông tên là Châu Thị Vĩnh Tế).
Đây là một công trình lớn do ông thiết kế và tự thân đốc suất, quân dân làm việc với số nhân công lớn gồm 80.000 người. Thởi gian công tác kéo đài gần 5 năm (1819-1824) mới hoàn thành. Đây là một thành quả lớn lao của tập thể dân phu mà người lãnh trách nhiệm chính với triều đình là ông. Nhân dân vui mừng, triều đình hoan hỉ vì hiệu quả to lớn của công tác doanh điền, thủy lợi này đã đem lại lợi ích lớn lao cho nhân dân cả miền Hậu Giang nói riêng và tổ quốc nói chung. Vua Minh Mạng lấy làm mãn nguyện vì đạt được một hoài vọng từ lâu. Sách Đại Nam nhất thống chí cho rằng: "Từ ấy đường sông lưu thông, từ kế hoạch trong nước, phòng giữ ngoài biên, cho tới nhân dân buôn bán đều được tiện lợi vô cùng".
Do sự thành công về quốc sách này, vua Minh Mạng giáng chỉ khen ngợi công lao của tập thể và cá nhân ông, rồi sắc ban đặt tên cho ngọn núi nhìn xuống con kinh là Thoại Sơn (tên Nôm là núi Sam) và con kinh này được mang tên vợ ông (Vĩnh Tế hà tức kinh Vĩnh Tế). Kinh rộng 15 tầm, (Tầm: đơn vị đo chiều dài ruộng đất thường dùng ở Nam Kì, 1 tầm = 8 doanh tạo xích; 1 doanh = 0,32m. Vậy 1 tầm = 2,56m. Nền kinh rộng 38,4m. Hiện nay kinh rộng hơn 100 thước) sâu 6 thước, dài 98.300 thước (gần 100km) nối liền Châu Đốc tới cửa biển Giang Thành (Hà Tiên).
Đây là một công trình thủy lợi, thuỷ đạo tiện lợi cho việc giao thông, vận tải đường sông; đồng thời làm sạch phèn lấy nước tưói ngọt cho một diện tích lớn ở Hà Tiên, Rạch Giá. Bên cạnh, kinh này còn là một ranh giới rõ rệt để phòng ngự, bảo vệ tổ quốc giữa hai nước Việt Nam -Campuchia.
Năm 1836, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh làm quốc bảo, hình kinh Vĩnh Tế được chạm vào cao đỉnh. Đây là một di vật đối với cá nhân ông cũng như tập thể nhân dân tham gia vào công trình đào kinh Vĩnh Tế.
Sau khi hoàn thành hai công trình thủy lợi giao thông và quốc phòng ở biên giới Tây Nam này. Đó là đào kinh Đông Xuyên (Thoại hà), kinh Vĩnh Tế như đã nói. Nguyễn Văn Thoại được vua Minh Mạng đặc ân cho lấy tên vợ ông đặt tên kinh, lấy tên ông đặt tên núi. Ông có viết bài bia Thoại Sơn (núi Sam) như sau:
Mùa xuân năm Mậu dần 1818), vâng chỉ nhà vua đốc suất đào kinh Đông Xuyên. Ngày nhận mạng lịnh, sớm tối chỉ kính sợ, đốn phá bụi cây, càn quét bùn lầy, dài tất cả là một vạn hai ngàn bốn trăm mười tầm, suốt tháng thì xong công, nghiễm nhiên là một con sông to vậy, mấi mãi làm phương tiện lợi cho ghe thuyền. Mà núí này ở bên cạnh con kinh ấy cao ước chừng hơn hai mươi trượng (Trượng = 10 thước = 3m20.) chu vi được hai ngàn bốn trăm bảy mươi tám tầm, sắc xanh tươi tốt đậm đà, vòi vọi dựng cao lên, linh động như rồng thần giỡn nước, phụng đẹp hiện bên sông, há chẳng phải là khí anh tú của tạo hóa chung đúc lại hay sao? Từ trước tới nay, trời đất khép kín, dấu người ít đến nơi. Bỗng hôm nay vì cớ xong con kinh mà núi này kinh ấy cũng được ghi vào họa đồ dâng trình lên vua xem, hẳn cũng là một kì ngộ của núi này vậy.
Lại kính theo ngọc dụ của vua lấy tên tước của lão thần là "Thoại Ngọc", thực đã coi sóc công việc ấy mà đặt tên là núi "Thoại", làm tiêu biểu cho con kinh Đông Xuyên, cho nên vì tên ngọn núi này mà lão thần đã được ban một vinh dự ngoài phận mình mong mỏi.
Trộm nhớ lại, lão thần là người Quảng Nam, thuở niên thiếu lánh vào Nam bộ được phục vụ binh nhung, được theo hầu sang Vọng Các may được ơn tri ngộ đặc biệt, dong rủi miền thượng đạo, qua lại vùng Xiêm, Lào và Cao Miên, được giữ hai trấn Lạng Sơn, Định Tường, khi khuyết chức, lại kính được vua ban ấn bảo hộ Phiên bang, rồi lại có mạng lịnh trấn giữ hai trấn Lạng Sơn, Định Tường, lần ngón tay mà tính trong khoảng hơn vài mươi năm gặp được hai triều. Kính ôn nhớ lại thi đã hai lần mang ấn bảo hộ, trong thời gian đóng giữ thành Châu Đốc, mở kinh Vĩnh Tế, dẹp nạn Cao Miên. Tuy chức của bề tôi thô bỉ, tuy trải được lao nhọc nhỏ nhen, nhưng nếu cứ khư khư về đường công danh mà thân thế lại chẳng như ông Khấu giữ gìn được nơi xung yếu, như ông Vũ trị thủy yên được núi sông, thì thật e rằng trong những năm thừa khi từ quan trở về cũng đồng như cỏ cây vậy. Ngờ đâu việc đào con kinh lại được vua xét đến, lấy tên của lão thần đặt tên cho núi này. Thế là núi này tức là lão thần, mà lão thần là núi này vậy, vòi vọi lâu dài không tiêu mòn cùng trời đất. Từ nay về sau phàm những ai thuận dòng được tiện lợi, xuôi ngang qua chân núi, chằng ai mà không trỏ ngọn núi gầy câu thú vị chuyện trò, ngưỡng nhớ đến đức siêng cần của vua đi kinh lí biên cương, và sau nữa đến duyên cớ được đặt tên cho núi. Vinh thay cho tên ấy! Vinh thay cho núi này! Vì vinh hạnh không riêng cho núi này mà hơn hết niềm vinh ngộ phi thường cho lão thần vậy. Knh cẩn ở chân núi trông lên miếu sơn thần, đục đá làm bia, ghi to hai chữ "Thoại Sơn" cùng kể lại lai lịch của tên núi hầu truyền mãi lâu dài không hư nát vậy. Nhằm niên hiệu Minh Mạng thứ ba (1822), năm Nhâm ngọ sau tiết đông chí. Khâm sai Thông chế án giữ đồn Châu Đốc lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm quản biên vụ trấn Hà Tiên, gia nhất cấp kỉ lục nhất thư là Thoại Ngọc Hầu lập bia.
Năm 1821 ông lãnh Quốc ấn bảo hộ Cao Miên kiêm quản trấn Hà Tiên - Châu Đốc. Năm 1822 (Minh Mạng thứ 3) lúc ông đang bảo hộ Cao Miên (ở Nam Vang) có nhiều điều không hòa hợp được với vua Miên, ông dâng sớ về triều xin giải chức. Nhà vua được tin bất ngờ này liền xuống dụ lưu ông ở lại chức.
Ông mất ngày 6-6 năm Kỉ sửu (1829) tại nhiệm sở Châu Đốc lúc đang tại chức, thọ 68 tuổi, an táng tại triền chân núi Sam. Sau khi mất ông được vua Minh Mạng truy phong Tráng võ tướng quân trị quốc đô thống.
Ngày nay ở Châu Đốc vẫn còn đền thờ ông bên triền núi Sam (và cũng là đình thần xã Vĩnh Tế) được nhân dân địa phương và toàn quốc xưng tụng là Lăng ông Thoại Ngọc Hầu, thường gọi tắt là Lăng Ông.
Bên trong lăng có bài vị ông:
"Thống chế án thủ Châu Đốc đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp kỉ lục tứ thứ, truy tặng Tráng tướng quân, trụ quốc đô thống, thụy Võ Khắc Nguyễn Công húy Thoại tôn thần".
Nghĩa:
Tôn thần của Nguyễn Công, húy là Thoại thụy là Võ Khắc được truy tặng là Tráng Võ tướng quân trụ quốc đô thống được bốn lần gia nhị cấp kỉ lục, là thống chế án giữ đồn Châu Đôc, lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm giữ việc biên giới trấn Hà Tiên.
Trước đây và hiện nay hễ đến ngày giỗ ông, nhân dân địa phương và cả Nam Bộ đều đến Lăng để chiêm nghiệm, tưởng nhớ công lao và sự nghiệp ông.
Ngày nay Lăng Thoại Ngọc Hầu được liệt vào công trình di tích văn hớa Quốc gia.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
Trong lịch sử Việt Nam, có những nhân vật không chỉ để lại dấu ấn mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng dân tộc. Một trong số đó là Thoại Ngọc Hầu, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, một người khai hoang vĩ đại và là nhà quản lý tài ba của triều đại Nguyễn. Sinh ra vào năm 1783 tại Quảng Nam, ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp mở cõi và phát triển vùng đất phương Nam, góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp và văn hóa tại đây. Với tầm nhìn xa trông rộng và tinh thần trách nhiệm, Thoại Ngọc Hầu đã để lại nhiều công trình có ý nghĩa lịch sử và văn hóa, làm thay đổi bộ mặt của một vùng đất mới. Bài viết này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của ông cho đất nước.
Với tài năng và sự nhiệt huyết, Thoại Ngọc Hầu được giao nhiệm vụ khai hoang, mở rộng lãnh thổ cho triều đình Nguyễn. Ông đã tham gia vào nhiều chuyến đi khảo sát thực địa, tìm kiếm vùng đất mới để phát triển nông nghiệp, góp phần tạo dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng đất phía Nam. Một trong những công trình nổi bật mà ông đã thực hiện là kênh Thoại Hà, kéo dài hơn 40 km, kết nối giữa sông Hậu và sông Tiền, giúp việc vận chuyển hàng hóa giữa các vùng miền trở nên thuận lợi hơn. Công trình này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của ông, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của vùng đất này.
Ngoài ra, Thoại Ngọc Hầu còn nổi tiếng với chính sách khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích người dân phát triển sản xuất nông nghiệp. Ông đã xây dựng nhiều làng mạc mới, hỗ trợ bà con trong việc trồng trọt và chăn nuôi, giúp họ ổn định cuộc sống. Tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước của ông đã tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ giữa người dân với chính quyền, xây dựng một cộng đồng vững mạnh và phát triển.
Bên cạnh những đóng góp về kinh tế, Thoại Ngọc Hầu còn chú trọng đến vấn đề giáo dục. Ông đã mở trường học, khuyến khích việc học tập và nâng cao nhận thức cho nhân dân. Sự nghiệp giáo dục của ông không chỉ dừng lại ở việc giảng dạy mà còn thúc đẩy văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc, giúp người dân hiểu rõ hơn về nguồn cội và giá trị văn hóa của chính mình.
Thoại Ngọc Hầu không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba mà còn là một tấm gương sáng cho tinh thần khai phá và yêu nước. Ông để lại cho thế hệ sau không chỉ là những công trình hạ tầng vĩ đại mà còn là bài học về sự kiên trì, nhẫn nại và trách nhiệm đối với quê hương đất nước. Thoại Ngọc Hầu là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời khẳng định rằng mỗi cá nhân đều có thể góp phần vào sự nghiệp lớn lao của dân tộc.
Nhìn lại lịch sử, Thoại Ngọc Hầu xứng đáng được nhớ đến như một nhân vật kiệt xuất, người đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng bờ cõi, phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa cho vùng đất phương Nam. Những cống hiến của ông sẽ mãi được lưu giữ trong lòng người dân Việt Nam như một minh chứng cho lòng yêu nước và tinh thần khởi nghiệp không ngừng nghỉ.
Bảng tin