

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Yêu nước và tự hào dân tộc là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người dân Việt Nam. Tình cảm ấy thấm đẫm trong tâm hồn dân tộc và dạt dào lai láng trên những trang thơ văn.
Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) là một áng thơ như thế!
Sông núi nước Nam không phải là sáng tác duy nhất thời Lí -Trần khơi nguồn từ cảm xúc về đất nước, về dân tộc. Gắn bó với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt - thời đại hào hùng đấu tranh chống ngoại xâm, dường như đất nước và dân tộc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà thơ. Và do đó, tình cảm yêu nước và tự hào dân tộc đã trở thành cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác văn chương thời kì này.
Nhìn lại các sáng tác thời Lí - Trần, tuy tình cảm đất nước bộc lộ ở những khía cạnh khác nhau, trong những thời điểm khác nhau, nhưng đều rất sâu sắc. Trong Chiếu dời đô, nỗi lo lắng cho vận số của đất nước, dân tộc, hạnh phúc của muôn dân, trăm họ là niềm trăn trở lớn nhất của vị hoàng đế đầu tiên của triều Lí. Ở Hịch tướng sĩ, lòng căm thù giặc, nỗi xót đau trước cảnh đất nước bị giày xéo tàn phá, ý chí sẵn sàng xả thân vì nước trào dâng mãnh liệt trong lòng vị thân vương họ Trần. Còn trong Phò giá về kinh, lại là hào khí chiến thắng của dân tộc và khát vọng về một nền thái bình muôn thuở cho đất nước của thượng tướng thái sư Trần Quang Khải.
Ra đời trong máu lửa của cuộc kháng chiến chống Tống, Sông núi nước Nam là tuyên ngôn của Đại Việt về độc lập, chủ quyền đất nước. Đây là tuyên ngôn của hàng triệu trái tim Đại Việt nồng nàn, thiết tha yêu nước mình.
Ta hãy đọc kĩ lại bản tuyên ngôn để cảm nhận được tình cảm mãnh liệt, sục sôi của một dân tộc:
Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ.
(Theo Lê Thước và Nam Trân dịch)
Sông núi nước Nam là của người Nam, đó là tư tưởng của hai câu thơ đầu của bài thơ. Tư tưởng này đối với chúng ta ngày nay tự nhiên như cơm ăn, nước uống. Nhưng ngày ấy, cái thời mà bọn phong kiến phương Bắc đã từng biến nước ta thành quận huyện và đang cố sức khôi phục lại địa vị thống trị, thì tư tưởng ấy mới thực sự thiêng liêng và có ý nghĩa biết chừng nào! Lòng tự tôn dân tộc hun đúc qua mấy mươi thế kỉ đã hoá thành tư thế đứng thẳng làm người, mặt đối mặt với kẻ thù. Đọc câu thơ, lòng ta không khỏi rưng rưng xúc động.
Nếu nhìn từ góc độ nguyên tác Hán tự, ta thật kinh ngạc. Câu thơ như một làn roi quất thẳng vào bộ mặt bá vương hợm hĩnh của triều đình phong kiến Trung Quốc - kẻ đang phát động chiến tranh xâm lược để thực hiện mưu đồ bá chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử bành trướng, chúng gặp phải ý chí quật cường đến thế, một tinh thần khẳng khái đến thế! Chúng đã có Bắc Quốc (Trung Quốc) thì ta cũng có Nam Quốc chúng có Bắc đế thì ta cũng có Nam đế; nào có thua kém gì nhau! Từ ngôn từ và ý thơ thế hiện một niềm tự hào cao độ về đất nước và dân tộc mình. Đây là niềm tự hào mà mỗi thần dân Đại Việt đều có trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù.
Lòng tự hào ấy, hơn ba thế kỉ sau được Nguyễn Trãi nhấn mạnh thêm:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Li, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
(Bình Ngô đại cáo)
Như vậy ý thức độc lập tự chủ đâu phải là mới thai nghén
Hôm nay, nó đã hình thành từ rất lâu trong tiềm thức của mỗi người dân đất Việt, có lẽ là từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, qua rất nhiều biến cố đau thương, nhưng ý chí độc lập không bao giờ bị dập tắt. Máu xương của cha ông đã đổ mấy ngàn năm chẳng phải là để giành lại xã tắc đó sao? Ngày hôm nay, một lần nữa, tinh thần dó được phát biểu thành một tuyên ngôn hùng hồn, đanh thép. Hơn nữa, là niềm tin sắt đá vào sự thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Giặc dữ cớ sao phạm tới đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ).
Dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc thù. Đó chính là biểu hiện tập trung nhất, cao độ nhất của lòng yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Sau này, trong văn chương nước nhà, ta còn bắt gặp không ít những áng thơ văn dạt dào sâu lắng tình yêu quê hương đất nước mình như thế trong đó Sông núi nước Nam mãi xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất về lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
A, MB
- giới thiệu ý kiến: Trong những tác phẩm văn học trung đại của Việt Nam, cảm hứng chủ đạo xuyên suốt đó chính là cảm hứng yêu nước, lòng tụ tôn dân tộc và truyền thống đánh đuổi giặc ngoại xâm.
- Những tác phẩm nổi bật nhất trong giai đoạn đó của dân tộc VN phải kể đến "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
- Những tác phẩm này đều là những áng thiên cổ hùng văn, khẳng định chủ quyền và ý thức tự tộn dân tộc của một dân tộc với truyền thống yêu nước, kiên cường trước mũi giáo kẻ thù.
B, TB
1, Cảm hứng yêu nước được thể hiện ở việc những văn bản này đều tố cáo tội ác của giặc
- Trong "Nam quốc sơn hà", tác giả đã viết "Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm" như một lời tố cáo đanh thép đến tội ác của quân Tống. Không những tác giả chỉ ra được hành động xâm phạm của chúng chính là phạm đến sách trời, phạm đến lãnh thổ đã được định sẵn của nước Nam mà còn khẳng định chúng chắc chắn sẽ nhận lấy bại vong.
- Trong "Hịch tướng sĩ", Trần Quốc Tuấn đã liệt kê hàng loạt những tội ác của quân Mông Nguyên như: lấy thân dê chó bắt nạt tể phụ, vơ vét tài nguyên,.... Những lời lẽ được tác giả chốt lại bằng lời cảnh báo của mình nếu như triều đình tiếp tục nhún nhường đó là "đem thịt mà nuôi hổ đói", chắc chắn chúng sẽ không bao giờ biết điểm dừng, sẽ chiếm lấy nước ta vào một ngày không xa.
- Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi đã kể ra được hàng loạt những tội ác tày đình của giặc Minh đối với đất nước ta.
Một loạt những lời buộc tội đanh thép của tác giả Nguyễn Trãi: việc làm trái với nhân nghĩa.
+ Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
- Những tội ác nặng nề lên nghề truyền thống, môi trường sống của người dân
"Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
....
Tan tác cả nghề canh cửi"
--> giặc Minh thản nhiên sống dựa trên công sức, máu xương của nhân dân.
- Lời kết tội đanh thép nhưng cũng đau xót:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn ko ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi
2, Những tác phẩm đều có mục đích chính trị quan trọng trong bối cảnh đất nước chống giặc.
- Nếu như "Nam quốc sơn hà" được LTK viết ra để khơi dậy tinh thần chiến đấu của binh lính nhà Lý, khẳng định chủ quyền của dân tộc và được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tien của dân tộc thì "Hịch tướng sĩ" chính là lời của vị chủ tướng yêu nước thương dân TQT mong binh sĩ có thể chỉnh đốn lại tinh thần, hàng ngũ mà chăm chỉ luyện tập sẵn sẵn ứng phó với hoàn cảnh giặc Mông Nguyên tràn sang bất cứ lúc nào.
- Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn mà Nguyễn Trãi thay mặt chủ tướng Lê Lợi soạn ra, tổng kết lại chiến thắng của dân tộc cũng như khẳng định là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt.
3, Các tác phẩm này đều thể hiện được ý chí quyết thắng quân thù.
- "Hịch tướng sĩ" của TQT còn thể hiện được tâm tư của 1 vị chủ tướng trước nỗi đau mất nước cùng với lời kêu gọi toàn thể binh sĩ dốc toàn lực để đánh giặc, nếu không sẽ phải chịu nỗi đau bại vong, nỗi nhục mất nước
- "Nam quốc sơn hà" của LTK đã thể hiện được lời cảnh báo đanh thép đến những kẻ đang có ý định xâm chiếm nước Việt, chắc chắn sẽ chuốc lấy bại vong
- "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi khẳng định được sự toàn vẹn của nước Việt cũng như nêu lên những thất bại thảm hại của biết bao triều đại đã xâm chiếm nước ta.
C, KB
Tóm lại, ba văn bản đều là những áng thiên cổ hùng văn có ý nghĩa lịch sử, chính trị quan trọng đối với dân tộc. Cảm hứng yêu nước chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt những tác phẩm này, làm nên sức sống lâu bền của chúng.
BÀI LÀM
Trong những tác phẩm văn học trung đại của Việt Nam, cảm hứng chủ đạo xuyên suốt đó chính là cảm hứng yêu nước, lòng tụ tôn dân tộc và truyền thống đánh đuổi giặc ngoại xâm. Những tác phẩm nổi bật nhất trong giai đoạn đó của dân tộc VN phải kể đến "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Những tác phẩm này đều là những áng thiên cổ hùng văn, khẳng định chủ quyền và ý thức tự tộn dân tộc của một dân tộc với truyền thống yêu nước, kiên cường trước mũi giáo kẻ thù.
Đầu tiên, cảm hứng yêu nước được thể hiện ở việc những văn bản này đều tố cáo tội ác của giặc Trong "Nam quốc sơn hà", tác giả đã viết "Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm" như một lời tố cáo đanh thép đến tội ác của quân Tống. Không những tác giả chỉ ra được hành động xâm phạm của chúng chính là phạm đến sách trời, phạm đến lãnh thổ đã được định sẵn của nước Nam mà còn khẳng định chúng chắc chắn sẽ nhận lấy bại vong. Trong "Hịch tướng sĩ", Trần Quốc Tuấn đã liệt kê hàng loạt những tội ác của quân Mông Nguyên như: lấy thân dê chó bắt nạt tể phụ, vơ vét tài nguyên,.... Những lời lẽ được tác giả chốt lại bằng lời cảnh báo của mình nếu như triều đình tiếp tục nhún nhường đó là "đem thịt mà nuôi hổ đói", chắc chắn chúng sẽ không bao giờ biết điểm dừng, sẽ chiếm lấy nước ta vào một ngày không xa. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi đã kể ra được hàng loạt những tội ác tày đình của giặc Minh đối với đất nước ta. Một loạt những lời buộc tội đanh thép của tác giả Nguyễn Trãi: việc làm trái với nhân nghĩa" Bại nhân nghĩa nát cả đất trời/Nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn/Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ". Hay như những tội ác nặng nề lên nghề truyền thống, môi trường sống của người dân "Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
....
Tan tác cả nghề canh cửi"
Ta có thể thấy được giặc Minh thản nhiên sống dựa trên công sức, máu xương của nhân dân cùng với đó là lời kết tội đanh thép nhưng cũng đau xót" Độc ác thay, trúc Nam Sơn ko ghi hết tội/Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi"
Thứ hai, những tác phẩm đều có mục đích chính trị quan trọng trong bối cảnh đất nước chống giặc. Nếu như "Nam quốc sơn hà" được LTK viết ra để khơi dậy tinh thần chiến đấu của binh lính nhà Lý, khẳng định chủ quyền của dân tộc và được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tien của dân tộc thì "Hịch tướng sĩ" chính là lời của vị chủ tướng yêu nước thương dân TQT mong binh sĩ có thể chỉnh đốn lại tinh thần, hàng ngũ mà chăm chỉ luyện tập sẵn sẵn ứng phó với hoàn cảnh giặc Mông Nguyên tràn sang bất cứ lúc nào. Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn mà Nguyễn Trãi thay mặt chủ tướng Lê Lợi soạn ra, tổng kết lại chiến thắng của dân tộc cũng như khẳng định là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt.
Thứ ba, các tác phẩm này đều thể hiện được ý chí quyết thắng quân thù. "Hịch tướng sĩ" của TQT còn thể hiện được tâm tư của 1 vị chủ tướng trước nỗi đau mất nước cùng với lời kêu gọi toàn thể binh sĩ dốc toàn lực để đánh giặc, nếu không sẽ phải chịu nỗi đau bại vong, nỗi nhục mất nước. "Nam quốc sơn hà" của LTK đã thể hiện được lời cảnh báo đanh thép đến những kẻ đang có ý định xâm chiếm nước Việt, chắc chắn sẽ chuốc lấy bại vong. "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi khẳng định được sự toàn vẹn của nước Việt cũng như nêu lên những thất bại thảm hại của biết bao triều đại đã xâm chiếm nước ta.
Tóm lại, ba văn bản đều là những áng thiên cổ hùng văn có ý nghĩa lịch sử, chính trị quan trọng đối với dân tộc. Cảm hứng yêu nước chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt những tác phẩm này, làm nên sức sống lâu bền của chúng.
Bảng tin