

Khi đọc tác phẩm Làng của Kim Lân em nhận ra sự thay đổi mang tính quyết định của nhân vật ông Hai là gì ? Hãy phân tích nhân vật này để làm nổi bật sự thay đổi ấy
Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Đây là câu trả lời đã được xác thực
Câu trả lời được xác thực chứa thông tin chính xác và đáng tin cậy, được xác nhận hoặc trả lời bởi các chuyên gia, giáo viên hàng đầu của chúng tôi.
Kim Lân là một trong những nhà văn nổi bật của nền văn học Việt Nam. Ông gắn bó với làng quê, am hiểu, gần gũi với người nông dân. Truyện ngắn “Làng” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Kim Lân được viết và in lần đầu năm 1948 trên tạp chí văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Thông qua nhân vật ông Hai, “Làng” thể hiện lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc của người nông dân nói riêng và của cả dân tộc nói riêng.
Đầu tác phẩm, người đọc đã có thể cảm nhận được lòng yêu nước của ông Hai, ông luôn nhớ về làng, nhớ những ngày làm việc với anh em, đào đất, đắp ụ,.. Dường như nhớ về làng tiếp thêm cho ông sức mạnh,sinh lực, khiến cho ông tìm được niềm vui,niềm an ủi động viên trong những ngày tản cư. Ông Hai cũng thường có nhu cầu ra phòng thông tin để theo dõi tin tức, khổ tâm khi không đọc được tin tức, thấy phấn chấn, hân hoan khi nghe tin chiến thắng. Đây là cách ông hòa mình vào lực lượng kháng chiến, chia sẻ niềm vui, hân hoan với tinh thần “người người đánh giặc nhà nhà đánh giặc”. Phải là một người yêu và gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước thì mới có thể như vậy. Không chỉ thể hiện lòng yêu nước qua sự yêu quý làng mà lòng yêu nước của ông Hai còn được thể hiện qua diễn biến tâm trạng của ông từ khi nghe tin làng theo giặc đến khi nghe tin làng cải chính. Cảm giác khi nghe tin làng theo giặc được miêu tả bằng một loạt các chi tiết “cổ họng ông nghẹn ắng lại”, “da mặt tê rân rân”, “ lặng người đi, không thể thở được”,.. Ông bàng hoàng, đau đớn khi nhận tin dữ về làng, tin dữ này dường như đã tạo nên một chấn động tâm lí nặng nề trong ông, khiến ông không thể làm chủ được mình. Sau khi cố trấn tĩnh , ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi. Ông hỏi vừa để xác định lại sự thật, lại vừa hỏi như để cố vớt vát hi vọng le lói rằng đó không phải sự thật. Khi không thể phủ nhận sự thật, ông cười nhạt, nói to đánh trống lảng ra về “ Hà, nắng gớm, về nào...” Ông Hai mặc cảm tội lỗi khi mang thân phân là người dân làng Dầu, muốn giấu nhẹm cái nỗi xấu hổ, nhục nhã ấy đi. Trở về đến nhà ông không nén nổi nước mắt, nằm vật ra giường nhìn lũ con tủi thân mà khóc. Chi tiết này cho người cảm tưởng như ông đã gục ngã,sụp đổ thực sự, thân xác ông rũ rượi,tin dữ ập tới như rút sạch sức sống, tinh thần trong ông. Ông khóc những giọt nước mắt tủi nhục, cay đắng, xót thương cho mình và những đứa trẻ vô tư, hồn nhiên mang thân phận kẻ Việt gian bán nước.Sau đó ông nắm chặt hai tay, rít lên, cất tiếng chửi rủa, như là bao nhiêu uất ức, tức giận ông trút lên tiếng chửi đó: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.” Nỗi tức giận tạm thời lắng chìm, lắng xuống, nguôi ngoai, ông bình tâm mà suy nghĩ “ngờ ngợ”, “dừng lại”, “kiểm điểm”. Ông cố tìm lí lẽ để phủ nhận nhưng ngay lập tức mọi lí lẽ lại trở nên yếu ớt trước sự thật: “Mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói? Chao ôi ! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian, .. Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?...”. Một loạt câu hỏi, câu cảm thán được nhà văn sử dụng để diễn tả sự giằng xé trong tâm trạng ông Hai, ông cảm thấy lo lắng, sợ hãi cho biết bao thân phận ông và người dân chợ Dầu khi phải đối mặt với sự thật này. Cả đêm hôm đó ông bị hành hạ, khổ sở, ông trằn trọc, lo lắng không ngủ được, người ông rũ ra, thở dài. Đặc biệt, mỗi lần nghe thấy mụ chủ, ông Hai lại trải qua những giây phút căng thẳng tột độ, chân tay ông "nhũn ra", "lặng hẳn đi", "trống ngực đập thình thịch", "nín thở". Nghĩ tới mụ chủ nhà là lòng ông lại dâng lên 1 nỗi sợ hãi, ám ảnh. Mấy ngày sau, ông tự giam mình, không dám bước chân đi đâu vì biến cố tâm lí khiến con người ông thay đổi. Từ một con người vui vẻ, hay cười, tự hào về làng , nay lại trở nên thu mình, khép nép, xấu hổi tủi nhục vì làng, cứ mỗi khi nghe từ "Việt gian", "cam nhông", hay thấy nhóm người bàn tán, ông nghĩ họ đang bàn tán về chuyện làng mình là nơm nớp, bất an. Đặc biệt, ông Hai vô cùng sợ hãi khi nhắc tới mụ chủ nhà, đỉnh điểm của nỗi sợ là mụ chủ nhà có ý đuổi khéo gia đình ông. Ông rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt đường sinh sống: không có nơi ở, làng xóm bị bôi nhọ. Trong lúc bế tắc, ông đã thoáng có ý nghĩ quay trở về làng nhưng ý nghĩ ấy nhanh chóng gạt đi vì quay trở về làng có chỗ trú chân nhưng đồng nghĩa với quay trở lại kiếp sống nô lệ, chấp nhận cuộc sống đen tối, đồng nghĩa với từ bỏ kháng chiến, phản bội cụ Hồ. Trải qua cuộc đấu tranh tâm lí quyết liệt, ông đưa ra một nhận định đanh thép “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù." Có lẽ tình yêu Tổ Quốc , yêu kháng chiến, gắn bó với cách mạng đã lớn hơn tình yêu làng. Đây chính là một bước phát triển trong tâm lí của người dân thời kì kháng chiến, đối với họ, làng là cội nguồn, là nhà cửa, tổ tiên, máu mủ… có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhưng phải chối bỏ, thù hận làng thì đó là cả 1 quá trình đấu tranh tâm lí dữ dội, căng thẳng nhưng cũng rất quyết liệt. Giờ đây trong họ tình yêu nước đã lớn hơn tình yêu làng, bao trùm lấy tình yêu làng. Tình yêu nước còn được thể hiện qua cuộc đối thoại với thằng Húc, thể hiện khi ông nghe tin làng cải chính. Trong hoàn cảnh bế tắc, tuyệt vọng,ông Hai đã giải bày tâm sự cùng thằng Húc, muốn chia sẻ để giải toả tâm lí bằng sự hồn nhiên, trong sáng, vô tư của con, để xoa dịu nỗi đau trong lòng. Lời đầu tiên ông muốn hướng tới quê nhà mình ở làng Dầu: "Thế nhà con ở đâu?", hỏi để khẳng định 1 tình yêu sâu nặng với làng vừa thể hiện sự xót xa, đau đớn của ông Hai khi hướng về làng. Câu thứ hai ông hỏi "Con ủng hộ ai?". Ông muốn bộc lộ tấm lòng thuỷ chung, gắn bó với cách mạng, với cụ Hồ, câu trả lời rành rọt của đứa con, ông khóc ròng ròng.Những giọt nước mắt xúc động khi đứa con nói đúng những lời gan ruột, tâm huyết từ đáy lòng ông. Cuộc đối thoại không chỉ giúp ông Hai minh oan, cởi bỏ nỗi lòng u uất mà còn khẳng định tình cảm thiêng liêng, bền vững gắn bó với cách mạng, kháng chiến, cụ Hồ. Khi ông nghe tin cải chính, Khuôn mặt buồn thiu của ông thường ngày nay lại tươi tắn hẳn, chia quà cho lũ trẻ trong nhà. Ông còn vội vàng sang nhà bác Thứ và những người xung quanh để khoe rằng làng ông không theo Tây mà anh dũng chống giặc, kể chuyện Tây đốt nhà ông bằng giọng hồ hởi, say sưa. Tin làng cải chính khiến ông Hai phấn khởi, hạnh phúc, vui mừng, tin ấy đã trả lại cho ông Hai bản tính ngày xưa, hay nói, hay cười, hay khoe - minh chứng cho tình yêu làng, nước luôn thống nhất trong con người ông Hai.
Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo, nghệ thuật dựng truyện độc đáo, nhà văn Kim Lân đã tái hiện thành công đời sống tâm hồn, tình cảm, tâm lí của người nông dân gắn bó sâu nặng với làng, tha thiết yêu nước, trung thành với cách mạng, kháng chiến.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bài làm
Truyện ngắn làng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Lấy bối cảnh những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, qua nhân vật ông Hai, nhà văn Kim Lân thể hiện một cách chân thực tình yêu làng, yêu nước của người nông dân Việt Nam.
Có thể nói, ông Hai yêu cái làng chợ Dầu như máu thịt của mình. Ông yêu tất cả những gì thuộc về làng, từ cành cây ngọn cỏ, con đường đi đến cái nếp sống, cái tinh thần của làng. Đối với ông, làng là tất cả, không có gì có thể đánh đổi được tình yêu làng trong tâm hồn ông.
Tình yêu làng của nhân vật ông Hai ít nhiều thay đổi theo thời gian nhưng trước sau như một. Ông lúc nào cũng gắn bó, chung thủy với cái làng chợ Dầu thân thiết của mình. Trước cách mạng, mỗi lần đi đâu xa, nói về làng của mình. Ông tự hào làng có cái sinh phần của viên tổng đốc lớn nhất vùng, rồi ca ngợi cái con đường lát đá, những ngôi nhà tường vôi mái ngói, cái giếng làng,… trong sự hãnh diện ghê gớm lắm..
Thực hiện lệnh của Ủy ban kháng chiến, ông phải đi tản cư, lòng ông cứ băn khoăn chẳng muốn rời xa cái làng thân yêu ấy một tý nào bởi vì theo lão “quê cha đất tổ một lúc rứt ruột bỏ đi làm gì mà không đau xót”. Xa làng rồi, ông Hai mới cảm thấy nhớ làng Dầu biết chừng nào. Tình yêu làng như ngọn lửa cứ cuồn cuộn cháy trong ông.
Dõi theo tác phẩm, ta thấy ở nhân vật ông Hai, tình yêu làng của ông thống nhất, hòa quyện với tình cảm yêu mến, thủy chung đối với cuộc cách mạng của dân tộc, đối với đất nước. Bản thân ông luôn tự hào làng của mình là làng kháng chiến, những người dân trong làng từ già đến trẻ đều là những con người có tinh thần quả cảm và bất khuất.
Chính lòng yêu nước đã làm cho ông cảm thấy vui mừng, tự hào về tinh thần dũng cảm cũng như thành tích chiến đấu của đồng bào dân tộc mà ông theo dõi được trên báo chí hằng ngày: “Ruột gan ông cứ múa cả lên…”
Quá đỗi hãnh diện về truyền thống anh hùng của làng và lòng yêu nước sâu sắc vốn có của mình, ông Hai đã quá bàng hoàng, sửng sốt, đau đớn trước cái tin chợ Dầu theo giặc. Thế là bao nhiêu niềm kiêu hãnh về truyền thống bất khuất của người làng chợ Dầu, bao nhiêu mơ ước được quay về làng bỗng hoàn toàn sụp đổ. Ông đau khổ như vừa lạc vào một vùng bóng tối dày đặc, nhục nhã và đau đớn vô cùng.
Lúc trong cùng cực tủi hổ, bế tắc và tuyệt vọng trước niềm tin, niềm tự hào và hãnh diện của mình bỗng chốc sụp đổ, ông Hai chỉ còn biết giải tỏa u uất cùng con nhỏ bởi ông biết trẻ con vốn ngây thơ và trung thực. Qua những lời nói hồn nhiên của thằng Húc và cái tinh thần của con, ông Hai tìm lại được niềm động viên an ui, tìm thấy điểm tựa tinh thần để cuối cùng, ông khẳng định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông đứng hẳn về phía cách mạng, ủng hộ cụ Hồ, ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc.
Cho đến khi cái tin oan nghiệt : “làng chọ Dầu làm Việt gian cả rồi” được cải chính, nỗi oan của người làng chợ Dầu được minh giải, nỗi dằn vặt trong lòng ông hai cùng biết bao khổ sở, tủi nhục được gỡ bỏ, ông hai như sống lại một cuộc đời mới. Dẫu làng ông bị cháy, nhà ông bị đốt, ông vẫn rất vui. Thì ra, đến đây người đọc chợt hiểu ông Hai yêu làng là yêu cái tinh thần kháng chiến của làng, của người chợ Dầu. Ông yêu người chợ Dầu anh hùng, quyết liệt kháng chiến chống giặc bảo vệ làng, bảo vệ đất nước.
Chi tiết kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị đốt nhẵn… Mới đọc chi tiết này, ta thấy dường như vô lý bởi ngôi nhà là cả một tài sản quá lớn đối với những người nông dân. Hơn thế nó còn gắn với bao kỷ niệm vui buồn rất thiêng liêng của mỗi con người. Mất nó ai mà không xót xa đau đớn? Nhưng ông Hai lại có cử chỉ “múa tay lên để khoe”, đó là biểu hiện của tâm trạng sung sướng đến tột độ. Ông Hai vui sướng vì nhà bị tây đốt là bằng chứng hùng hồn rằng làng Dầu của ông vẫn theo kháng chiến, theo cách mạng, đó là một làng quê anh hùng, đứng dậy chống thực dân Pháp. Chắc hẳn mất nhà, ông Hai cũng đau lắm chứ, xót xa lắm chứ. Nhưng dù thế nào thì nhà còn có thể xây dựng lại được, song danh dự của làng đâu dễ lấy lại? Ông đã quên đi sự mất mát riêng để tự hào sung sướng trong vẻ đẹp, sức mạnh chung của làng quê, đất nước.
Niềm vui, nỗi buồn của ông Hai luôn gắn liền với vận mệnh của Làng Dầu. Thế mới biết ông Hai yêu làng quê tha thiết đến chừng nào! Tình yêu làng quê được mở rộng, thống nhất, hoà quyện trong tình yêu tổ quốc thật sâu nặng và thiêng liêng. Từ tình yêu làng thiết tha, chuyển biến lên thành tình yêu nước sâu đậm. Tình yêu nước được đặt cao hơn tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Chính họ, những người nông dân yêu nước ấy đã góp phần không nhỏ vào những kỳ tích oan hùng, những thắng lợi rực rỡ trong cuộc trường chinh giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Sự vận động tình yêu làng, yêu nước trong tình cảm của nhân vật ông Hai (và cũng là của người lao động Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp), đi từ sự tự phát (trước cách mạng, họ có tình yêu làng, yêu nước một cách tự nhiên) đến tự giác (họ yêu làng, yêu nước trên ý thức nhận rõ kẻ thù xâm lược. Họ một lòng đi với cách mạng, ủng hộ cụ Hồ, ủng hộ đường lối và chính sách của Chính phủ kháng chiến, quyết một lòng đứng về phía cách mạng.
Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng nhân vật ông hai, một lão nông thật thà, chất phác, yêu làng, yêu nước. Chuyển biến từ tình yêu làng thiết đến tình yêu nước sâu đậm, ủng hộ cụ Hồ, ủng hộ kháng chiến; từ tình yêu làng tự phát đến tình nước tự giác của nhân vật ông Hai hay cũng chính là những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin