

Hãy luôn nhớ cảm ơn và vote 5*
nếu câu trả lời hữu ích nhé!
Trả lời :
*Trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp, nhân tố đóng vai trò quyết định nhất là Nhân tố kinh tế -xã hội .Cụ thể là Chính sách phát triển nông nghiệp.
Giaithich :
Chính sách phát triển nông nghiệp
- Phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, nông nghiệp hướng ra xuất khẩu
-Vai trò của các chính sách đó là cơ sở động viên nông dân làm giàu. Khuyến khích sản xuất, khơi dậy và phát huy mặt mạnh của hàng nông nghiệp, tạo nhiều việc làm, ổn định đời sống nông dân.
-Tạo mô hình phát triển nông nghiệp thích hợp, khai thác mọi tiềm năng sẵn có
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
![]()
Ngành nông nghiệp ở mỗi tỉnh nghiên cứu còn rất nhiều vấn đề tồn tại trong bối cảnh thực hiện phát
triển hiện nay. Các hạn chế này được chia thành 4 nhóm sau: i) điều kiện tự nhiên, ii) công nghệ nông
nghiệp, iii) dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp và iv) kinh tế xã hội. Các hạn chế được nêu dưới đây là những
vấn đề mang tính phổ biến của khu vực trừ trường hợp được nêu cụ thể của tỉnh nào. Các hạn chế và
vấn đề tồn tại chủ yếu như sau:
(1) Các yếu tố tiêu cực về điều kiện khí hậu nông nghiệp
1) Lượng mưa không đều
Lượng mưa hàng năm và lượng mưa hàng tháng dao động lớn giữa các năm khiến cho việc
kiểm soát kế hoạch trồng trọt và chăm sóc mùa màng ngày càng khó hơn. Bởi thế, cần thiết và
nhất thiết phải phát triển các công trình thủy lợi trong đó có hồ điều hòa và ao nông nghiệp.
2) Số giờ nắng ít
Quanh năm số giờ nắng mỗi ngày tại Vùng chỉ vào khoảng 5 tiếng không kể trong tháng 5.
Trong tương lai khi sản xuất ngũ cốc tăng, e rằng ánh sáng mặt trời sẽ không đủ để làm khô
ngũ cốc thu hoạch được. Gần đây các thiết bị sấy chạy điện đã được lắp đặt một phần tuy
nhiên, sử dụng chất đốt (than và thân cây ngô) vẫn còn là những vấn đề nghiêm trọng.
3) Nhiệt độ không khí thấp trong mùa đông
Từ tháng 12 đến tháng 1, nhiệt độ không khí thấp nhất, có khi xuống dưới 15°C trong đêm.
Khi áp dụng mô hình trồng trọt thâm canh, cần bắt đầu công tác gieo trồng từ cuối tháng 12
đến khoảng giữa tháng 1.
(2) Không đủ đất thích hợp cho sản xuất trồng trọt
1) Xói mòn đất và sự suy giảm khả năng canh tác của đất
Đất ở Vùng nghiên cứu không phát triển về thành phần cơ cấu; và các lớp đất rắn chắc. Tuy
nhiên, chất đất lại dễ vỡ vụn khi ẩm ướt nên phải đặc biệt chú ý tới vấn đề xói mòn đất, nhất là
ở các khu vực sườn núi. Để giảm nhẹ vấn đề xói mòn vừa nêu, cần thiết và nhất thiết phải phát
triển cấu trúc “ruộng bậc thang” nhằm can thiệp và/hoặc giảm bớt vận tốc dòng chảy bề mặt
của nước mưa.
2) Thiếu đất trồng trọt
Các nông dân địa phương đã khai hoang hết phần đất thích hợp cho việc trồng trọt và thậm trí
cả đất dốc có lớp sỏi nông. Không còn đất có thể sử dụng cho sản xuất trồng trọt mang tính
kinh tế ở Vùng. Vì thế năng suất của đất trồng trọt sẽ là cần thiết và thiết yếu cho canh tác ổn
định trong Vùng.
(3) Chậm trễ phát triển cơ sở hạ tầng và thiếu kỹ thuật canh tác thích hợp
1) Thiếu công trình thủy lợi
Để ổn định việc trồng lúa, chức năng kỹ thuật của các công trình thủy lợi hiện trạng nhìn
chung cần được cải thiện (phát triển nguồn nước, cải thiện công trình đầu mối, bảo vệ kênh
chống rỉ mất nước, v.v.v) nhằm duy trì hiệu quả thủy lợi trong chừng mực hợp lý.
2) Hạ tầng cơ sở thấp kém
Mạng lưới và/hoặc hệ thống đường chưa phát triển gây khó khăn rất nhiều cho việc chuyên
chở hàng hóa và việc đi lại của người dân địa phương trong mùa mưa. Không có mạng lưới
đường nông thôn, gây cản trở lớn cho việc cải tiến các tập quán canh tác.
3) Kiến thức và kỹ năng kỹ thuật thấp kém
Các nông dân địa phương chưa có đủ kỹ năng trồng trọt nhiều loại cây và không có kiến thức
quản lý nông nghiệp thích hợp. Hiện trạng này cản trở họ trong việc nâng cao năng suất lao
động cũng như sản lượng mùa màng. Sự thiếu phổ biến các nông cụ làm đồng thích hợp cũng
là một vấn đề trong việc hiện đại hóa nông nghiệp ở khu vực này.
4) Những ruộng đất nghèo không được gia cố trên sườn núi (Điển hình ở tỉnh Điện Biên và Sơn
La)
Ở khu vực sườn núi, điều cốt yếu là phải thực hiện được “công tác gia cố đất canh tác” như
hình thành ruộng bậc thang, mạng lưới đường nội đồng, v.v.v để tăng độ màu mỡ cho đất và
bảo vệ đất tránh nguy cơ xói mòn.
5) Thực tiễn canh tác truyền thống liên tục (Những vấn đề sau mang tính đặc thù ở tỉnh Sơn La)
Sản lượng của các đặc sản địa phương như chè và cà phê còn thấp ở mức cơ bản ở đa số các
ông trường. Điều này chủ yếu là do không có công nghệ thích hợp ở nông trường cây trồng
vừa nêu. Đây cũng là vấn đề trong sản xuất cây công nghiệp. Sự đa dạng hóa cây trồng đã
thực sự có tiến triển, nhưng ngược lại, các dịch vụ kỹ thuật khuyến nông vẫn chậm chạp hoặc
vắng mặt trong thực tiễn sản xuất các cây trồng đa dạng. Để đạt được mục tiêu của chương
trình đa dạng hóa cây trồng một cách mỹ mãn, các tập quán trồng trọt truyền thống nên được
thay thế bằng các phương pháp hiện đại có ứng dụng công nghệ thích hợp như làm màu mỡ
đất trồng, tỉa cây chặp đôi, làm thưa cây giống/quả non có chọn lựa, vv…
(4) Thiếu các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp
1) Dịch vụ khuyến nông yếu
Số lượng cán bộ khuyến nông hiện nay, đặc biệt là các cán bộ có kỹ năng kỹ thuật quá thiếu.
Trong việc tái cơ cấu các cơ quan hành chính hiện nay, Chính phủ không xem xét tăng cường
số lượng nhân sự trong khu vực dịch vụ khuyến nông. Theo đó, sẽ phải tạo ra một hệ thống
công tác tốt nhất cho các dịch vụ khuyến nông hiệu quả trong khuôn khổ nhân sự hiện có.
Trong điều kiện này, các thửa ruộng canh tác mang tính trình diễn kỹ thuật (TDFP) được
khẳng định là mang tính ứng dụng ngay cả đối với những đơn vị sản xuất nhỏ ở thôn làng và
rất có hiệu quả cho bà con dân tộc tiếp thu công nghệ một cách trực tiếp. Về phần thực hiện và
quản lý các thửa ruộng trình diễn trên, nên tổ chức các đối tượng nông dân thụ hưởng rồi dùng
phương pháp “tiếp cận có sự tham gia” để thực hiện các thửa ruộng trình diễn. Theo đó, người
nông dân có thể học và tiếp thu công nghệ cần thiết một cách thành công thông qua thực tế
hoạt động ở thửa ruộng trình diễn.
2) Thiếu thông tin cần thiết cho việc cải tiến công nghệ trồng trọt
Khảo sát thực tế đã xác định rằng đa số các nông dân phàn nàn rằng không có đủ thông tin cần
thiết cho việc cải tiến công nghệ nông nghiệp là một trong những vấn đề cơ bản nhất tại Vùng.
Thực tế, các cơ quan nông nghiệp ở tỉnh và/hoặc huyện chỉ có một số lượng hạn chế tài liệu
tham khảo tại các thư viện. Thông tin kỹ thuật từ các viện nghiên cứu quốc gia cũng mới đạt
lượng nhỏ cho tới hiện nay. Gần đây, Trung tâm Khuyến nông Trung ương (CAEC) vừa lập và
phân phối sách bướm và tranh ảnh mang tính hướng dẫn kỹ thuật. Những hướng dẫn này được
treo trên tường tại các văn phòng nông nghiệp tỉnh cũng như xã và thôn/bản. Tuy nhiên, những
dịch vụ này còn xa vời và ít có tác động đến đa số người nông dân.
Mặt khác, chính phủ đang ra sức quảng bá “câu chuyện thành công của thương mại hóa nông
nghiệp” thông qua truyền hình và các phương tiện thông tin trong cuộc vận động đa dạng hóa
cây trồng và chiến dịch thương mại hóa nông nghiệp hiện nay. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng,
sự quảng bá trên chưa thể có đủ sức tuyên truyền để dẹp đi sự không thỏa mãn của người nông
dân về các dịch vụ khuyến nông thấp kém. Để đạt được mục tiêu thương mại hóa nông nghiệp
và nâng cao sản lượng cây trồng nhằm xây dựng nền kinh tế của nông thôn cũng như của nông
dân, chính phủ cần hết sức nỗ lực đẩy mạnh các dịch vụ khuyến nông trong đó có hệ thống
thông tin về các hoạt động tiếp thị.
3) Tín dụng thể chế không hiệu quả với các nông dân vay nhỏ
Chính phủ đã thiết lập hệ thống dịch vụ tín dụng thể chế và đang mở rộng tín dụng nông
nghiệp và nông thôn cho người dân ở nông thôn. Tuy nhiên, trong thực tế, hình thức tín dụng
trên vẫn không thật hiệu quả cho những người nông dân vay nhỏ, những người vốn là đối
tượng có mong muốn sử dụng tín dụng lớn nhất trong khu vực nông thôn. Thiếu nguồn lực thế
chấp chính là một trong nhưng hạn chế lớn nhất trong vấn đề này. Thủ tục cho vay vốn phức
tạp cũng là một vấn đề khó khăn đối với nông dân nông thôn có văn hoá thấp.
(5) Các vấn đề và hạn chế về kinh tế xã hội
1) Sức ép dân số đối với đất đai canh tác
Như đã chỉ ra trong Phần 1), núi non dốc cộng bậc thang cao chiếm trên 85% diện tích Vùng
nghiên cứu, diện tích đất có thể canh tác vì vậy khá nhỏ. Đất đai có thể trồng trọt được thời
gian qua đã khai thác triệt để . Trước tình hình này, quy mô đơn vị canh tác cho mỗi hộ dần
dần bị giảm xuống nhỏ hơn và gần đây còn trung bình khoảng 0,5 – 0,7ha/hộ nông nghiệp.
Bởi dân số ở Vùng nghiên cứu đang tăng nhanh, tốc độ chia nhỏ đất đai sẽ còn tăng nhanh hơn
nữa. Quy mô đất chia có thể chỉ còn 0,3 ha/gia đình trong tương lai rất gần.
2) Chức năng marketing nông sản yếu
Như đã trình bày trong Phần 3) trên, việc phát triển hạ tầng cơ sở còn yếu ở Vùng nghiên cứu.
Hơn thế nữa, hạ tầng marketing tại đây bao gồm các phương tiện giao thông, hệ thống đường
xá cũng như thiết bị lưu chứa và xử lý cũng còn thấp kém. Bởi vậy thương mại hóa các sản
phẩm cây trồng ở 4 tỉnh tương ứng mới chỉ tiến triển ở những khu vực mở rộng gần những con
đường chính và đường nhánh. Các hoạt động marketing ở vùng sâu vùng xa vẫn ngừng trệ ở
mức độ tối thiểu. Khả năng làm marketing kém không khuyến khích được quyết tâm của
người nông dân trong sản xuất trồng trọt cũng như trong các hoạt động nông nghiệp khác.
3) Thiếu công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch
Lương thực chính được sản xuất ở Vùng nghiên cứu nhằm mục đích tự cung tự tiêu trong nội
vùng nên lượng thực phẩm được thương mại hóa vẫn còn nhỏ, chỉ ở mức đủ để tồn tại. Sản
phẩm cây công nghiệp được bán hết ra thị trường thông qua những người mua trung gian hoặc
bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến sau khi thu hoạch. Chính bởi lý do này mà cho tới hiện
nay, người nông dân chưa bao giờ cảm thấy cần phải có những công cụ marketing.
Phần lớn các nông dân vẫn làm đồng bằng công cụ nhà nông truyền thống. Bởi thế, tỷ lệ mất
mát sản phẩm mùa màng ở cánh đồng lên tới 10% hoặc cao hơn, bên cạnh đó, chất lượng sản
phẩm cũng bị ô nhiễm tới mức trầm trọng bởi hỗn hợp đủ thứ vật tư ngoại lai.
Ngược lại, việc tận dụng phân xanh, phụ phẩm còn rất hạn chế, phần lớn cây trồng sau khi thu
hoạch hiện nay đều bị đốt lãng phí trên cánh đồng. Không có đường nội đồng là một trong
những lý do dẫn đến hạn chế vừa nêu.
4) Thiếu cơ sở chế biến nông sản
Hiện nay mỗi xã và/hoặc thô/n bản lớn lớn có một số nhà máy gạo và nhà máy bột ngô nhỏ
với công suất 500-750kg/h phục vụ tiêu dùng địa phương. Ngoài ra cũng có các nhà máy gạo
quy mô trung bình (công suất hoạt động 1-1,2 tấn/h) ở phần lớn các huyện nhằm mục đích
thương mại hóa gạo. Về chế biến chè và cà phê, có các công ty nhà nước và tư nhân trụ lân
cận tại các khu nông trường. Tuy nhiên, không có nhà máy chế biến nào thậm chí là nhà máy
sơ chế cho các cây công nghiệp như đậu đỗ, lạc, vừng. Vì thế, phần lớn sản lượng được đưa ra
khỏi Vùng làm vật liệu hoặc nguyên liệu thô theo kiểu bán sỉ mà không có giá trị tăng thêm
nào. Đây thực sự là thất thoát lớn không chỉ về nguồn lực hữu ích giá trị mà còn là cơ hội tốt
nhất để tạo cơ hội việc làm cho số đông nguời dân. Các hoạt động chế biến có thể vừa đóng
góp cho nền kinh tế xã hội khu vực vừa cung cấp một kênh marketing ổn định cho những
người sản xuất. Các phụ phẩm phụ thu được thông qua công việc chế biến sẽ là nguồn vật liệu
vô cùng hữu ích để phát triển các ngành nghề sản xuất mới như nuôi lợn, nuôi cá, trồng nấm,
vv.v nhờ đó tạo thêm thu nhập cải thiện đời sống kinh tế hộ nông dân.
5) Tổ chức của những người nông dân vừa nghèo nàn vừa yếu
Được biết tổ chức hội nông dân đang được phát triển tốt tại khắp miền Bắc Việt Nam; các tổ
chức này hoạt động một cách hệ thống và chủ động. Trên thực tế, tổ chức nông dân đã có mặt
trên 99% các xã và mỗi thôn/bản ít nhất cũng có một đơn vị. Tuy nhiên ở Vùng nghiên cứu thì
tổ chức hội nông dân hay các hợp tác xã không được phát triển. Một trong những nguyên nhân
của thực trạng này là sản xuất nông nghiệp thụ động đặc trưng bởi nền nông nghiệp theo
hướng tự cấp tự túc ở phần lớn khu vực miền núi này. Theo thông tin thu thập được trong
Khảo sát nhu cầu của người nông dân (2003), gần 45% tổng số nông dân đang được tham gia
vào các hoạt động HTX nào đó, trong khi phần lớn các HTX này lại thụ động do đội ngũ cán
bộ có trình độ hạn chế và thiếu kinh nghiệm trong việc vận hành và quản lý hoạt động của
HTX.
Các HTX cơ bản được chia làm bốn loại theo mục đích cụ thể của từng loại hình, đó là “HTX
sản xuất”, “HTX tín dụng”, “HTX marketing” và HTX cải thiện điều kiện sống”. Hiện nay các
HTX sản xuất chiếm gần 90% tổng số các tổ chức. HTX marketing chỉ chiếm 6% và các HTX
còn lại chiếm 4%.
Để tổ chức và điều hành hội nông dân hoạt động trên cơ sở bền vững, cần đào tạo cán bộ quản
lý cũng như xây dựng năng lực cho các nông dân thành viên trong việc điều hành và quản lý
các hoạt động của HTX thông qua sự tham gia vào các công việc cụ thể.
9.2.2 Chăn nuôi
(1) Dịch bệnh ở vật nuôi
Những hạn chế lớn nhất trong ngành chăn nuôi của Vùng nằm chính trong bệnh dịch chăn nuôi hiện
hành. Số lượng vật nuôi đáng kể đã bị tiêu hủy bởi sự tái diễn của dịch bệnh súc vật có tính đại dịch.
Chính phủ bắt buộc các nông dân phải tiêu hủy động vật bị nhiễm bệnh theo quy định. Mặc dù chính
phủ hỗ trợ cho các nông dân liên quan nhằm bù đắp một phần thiệt hại, những người nông dân vẫn có
xu hướng nản chí bởi ngành chăn nuôi nhiều rủi ro.
Trong số các dịch bệnh thì lở mồm long móng là bệnh gây thiệt hại trầm trọng nhất. Sẽ phải mất nhiều
năm mới có thể khắc phục được thiệt hại này, nhất là khi đem so sánh việc nuôi trâu bò và việc nuôi
lợn gà. Cúm gia cầm cũng là một rủi ro khác đối với người nông dân. Nhằm phòng chống các bệnh
dịch hiện hành, Chính phủ cung cấp các dịch vụ tiêm phòng thú y với vacin. Thêm vào đó, các hình
thức kiểm soát bệnh khác như tẩy uế và tiêu hủy động vật mắc bệnh truyền nhiễm được thực hiện triệt
để. Do hệ thống hỗ trợ yếu kém, công tác phòng chống không đạt được mức độ mong muốn.
(2) Thiếu thức ăn gia súc
Cả cây cỏ khô và thức ăn tổng hợp không được sử dụng mặc dù nguồn đồng cỏ cho gia súc hạn chế.
Phần lớn động vật được nuôi bằng cỏ tự nhiên mọc ở phần đất trũng như đồng lúa và trên lối đi. Thiếu
thức ăn gia súc sẽ là một hạn chế lớn trong tương lai khi công nghiệp chăn nuôi tập trung được đưa
vào Khu vực. Sẽ cần phải hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, những người mà kiến thức về thức ăn gia
súc còn hạn chế. Song song với việc này, phải khuyến khích sản xuất thức ăn tổng hợp. Phần lớn sản
lượng ngô dư thừa là ở Sơn La và Hòa Bình nơi đặt nhà máy thức ăn gia súc. Phải thúc đẩy sản xuất
nhiều thức ăn gia súc hơn.
(3) Thiếu các cơ sở hỗ trợ thể chế
Thiếu cơ sở thụ tinh nhân tạo là một hạn chế khác của Vùng. Hi vọng nơi đây sẽ nhận được hỗ trợ kỹ
thuật từ trung tâm thụ tinh nhân tạo Moncada ở tỉnh Hà Tây được thành lập năm 1970 và được JICA
viện trợ từ 2000-2005. Đơn vị này sản xuất và phân phối hàng triệu đơn vị tinh đông viên gia súc.
(4) Thiếu khuyến nông viên có kinh nghiệm
Để đưa các kỹ thuật chăn nuôi hiện đại vào Khu vực, cần có nhiều khuyến nông viên hơn đồng thời
cũng cần xây dựng năng lực cho đội ngũ khuyến nông này.
(5) Thiếu hệ thống marketing chính thức
Nhìn chung, vật nuôi được bán trực tiếp tại chỗ cho người mua trung gian với giá thấp. Người nông
dân mong muốn được chính quyền cung cấp thông tin về thị trường để tình hình giá cả được cải thiện.
Thêm vào đó, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm chăn nuôi cũng nên được kiểm soát dưới trách nhiệm
của chính quyền.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
Bảng tin
0
1275
0
Giải thích vì sao dùm với ạ
2909
7270
2690
Mình sửa lại rồi bạn coi đi
2909
7270
2690
Giaithich rồi đó
0
1275
0
Thanks
2909
7270
2690
Ừ:v
0
1275
0
Cái đề kêu cụ thể là mình chỉ trả lời nhân tố kinh tế- xã hội cụ thể là chính sách nông nghiệp
0
1275
0
Mình ko cần nói câu a,b,d đúng ko bạn
2909
7270
2690
Đề bạn làm mình khó hiểu? Nên mình nghĩ cả 4 cái